Không ngờ giới nhà giàu thời cổ đại chi tiền cho những món đồ "khủng" cỡ này

Thứ Năm, 17 Tháng Chín 20203:00 SA(Xem: 432)
Không ngờ giới nhà giàu thời cổ đại chi tiền cho những món đồ "khủng" cỡ này

Thời cổ đại, mọi người thể hiện thân phận cao quý của mình bằng những trang sức trên đầu hay quần áo và những món đồ trên thân. Ngay cả màu quần áo cũng được chia thành các cấp cao và thấp. Sau thời nhà Đường, màu vàng chỉ là màu độc quyền của hoàng thân quốc thích, ngay cả đại thần và các thường dân cũng bị cấm chỉ mặc quần áo màu này.

Phượng quán (mũ phượng)

Minh hiếu đoan hiển hoàng hậu đội phượng quán.
Minh hiếu đoan hiển hoàng hậu đội phượng quán.

"Quán" là cách gọi cổ xưa chỉ chung những đồ trang trí trên đầu. Trong mắt người xưa, "quán" không hoàn toàn tương đương với chiếc mũ mà chúng ta có ngày nay. Nó càng giống như một món đồ mang dấu hiệu nhận diện. Thời cổ đại, chỉ cần đội "quán", đều là người có thể diện.

Trong mắt người xưa, vương miện không hoàn toàn tương đương với chiếc mũ của chúng ta ngày nay, nó giống như một dấu hiệu nhận dạng. Do đó, trong thời cổ đại, miễn là đeo vương miện, thậm chí là một người đàng hoàng.

Thời cổ đại, "quán" có rất nhiều loại, phân theo nhiều cấp độ khác nhau, giới tính khác nhau và cách sử dụng khác nhau. Chúng được chia thành miện quán (mũ miện, dành riêng cho quan đại phu trở lên), trường quán, uy mạo quán, phượng quán … Trong đó, phượng quán được coi là loại xa xỉ nhất.

Nhiều người lầm tưởng rằng phượng quán là trang sức trên đầu của duy nhất hoàng hậu. Nhưng trên thực tế, phượng quán là loại mũ cao cấp nhất của phụ nữ trong các triều đại xưa, và nó thường được đội trong các dịp lễ lớn. Trong triều đại nhà Minh và nhà Thanh, phụ nữ bình thường cũng đội phượng quán khi xuất giá.

Phượng quán là loại mũ được cải biên, phát triển từ những trang sức hình phượng hoàng như trâm phượng, tước phượng... và có lịch sử khá lâu dài. Theo nghiên cứu, phượng quán xuất hiện vào thời nhà Hán. Phượng quán đến thời nhà Đường phát triển thịnh nhất, mang ngụ ý tự do, quyền thế và phú quý. Đến thời ngũ đại thập quốc và thời nhà Thanh, phượng quán càng được củng cố thêm ý nghĩa của sự tự do, ổn định và cả thời thượng, tới thời nhà Minh lại càng đạt đến một đỉnh cao mới.

Phượng quán thời nhà Minh.
Phượng quán thời nhà Minh.

"Phượng quán" của nhà Minh rất trân quý và trang nhã, các viên ngọc đính trên quán rất lớn, thể hiện sự cao quý và sang trọng, đến thời nhà Thanh lại càng được tăng thêm vị thế và bản sắc. Phượng quán được đội trên búi tóc của người phụ nữ càng thể hiện được vẻ đẹp, sự quý phái và cát tường.

Hoa văn trang trí trên phượng quán rất tinh xảo, thanh lịch, chủ yếu là những hoa văn hình rồng phượng, rồng được làm bằng những chi tiết vàng rỗng ba chiều, phượng hoàng được làm bằng lông chim bói cá, các chi tiết có màu sắc riêng biệt khi kết hợp lại rất hài hòa tuyệt đẹp.

Mũ 12 rồng 9 phượng của Hiếu Tĩnh hoàng hậu.
Mũ 12 rồng 9 phượng của Hiếu Tĩnh hoàng hậu.

Màu sắc của phượng quán cũng được lựa chọn cẩn thận, sử dụng ba gam màu chính trong bố cục màu đỏ, vàng và xanh lam. Trong đó, màu xanh là màu cơ bản, chiếm phần lớn nhất, tiếp theo là màu vàng và màu đỏ điểm nét.

Phượng quán của Minh Thần Tông Vạn Lịch Hiếu đoan hoàng hậu.
Phượng quán của Minh Thần Tông Vạn Lịch Hiếu đoan hoàng hậu.

Chất liệu làm nên phượng quán chủ yếu là đá quý, đá pha lê, vàng, ngọc trai, lông vũ, v.v... Mỗi phượng quán được trang trí bằng các loại ngọc trai, đá quý và trọng lượng khác nhau. Số lượng nhiều nhất gắn trên phượng quán là 128 miếng đá quý, 5.449 viên ngọc trai. Những chi tiết như rồng, phượng, hoa, lá… trên phượng quán sẽ được làm riêng, sau đó được gắn vào ở các bước sau để hoàn thiện phượng quán.

Phượng quán có hình dáng trang trọng và được chế tác tinh xảo từ các kỹ thuật chạm, khắc, đục, gắn đá hay xâu. Việc gắn ráp cuối cùng là một quá trình rất phức tạp. Việc sắp xếp các đồ trang trí khác nhau, gắn hàng ngàn viên ngọc trai, khảm hàng trăm viên đá quý, và những chi tiết khác trên phượng quán sao cho hợp lý đòi hỏi sự tỉ mẩn, tinh tế.

Các chi tiết trên phượng quán.
Các chi tiết trên phượng quán.

Đai lưng có móc bằng ngọc dát vàng

Người cổ đại thường mặc những bộ quần áo rộng rãi và họ cũng cần một chiếc đai lưng để chỉnh dáng quần áo.

Đai lưng thời cổ được chia thành hai loại: đai lớn và đai da. Đai lớn hay đai bản to thường được làm bằng vải và để thắt chặt eo. Đai da chủ yếu được làm bằng da thô, khi thắt có thể dắt thêm những đồ nhỏ như con dấu, kiếm hay vật khác. Do đai da cứng và dày nên chúng không thể thắt chặt như đai vải, bởi vậy nên chúng thường cần đi kèm với những cái móc, giống như móc thắt lưng của thời hiện đại.

Đai lưng thời cổ đại thường đi kèm với những cái móc, giống như móc thắt lưng của thời hiện đại.
Đai lưng thời cổ đại thường đi kèm với những cái móc, giống như móc thắt lưng của thời hiện đại.

Móc đai có nguồn gốc từ rất sớm, và khá phổ biến trong giai đoạn cuối thời Chiến quốc. Nhiều chiếc móc đai cổ đã được khai quật và lưu truyền lại tới ngày nay. Đó là những chiếc móc đai vô cùng giá trị, làm bằng ngọc dát vàng hoặc có khắc chữ.

Vào thời nhà Minh, móc đai phát triển thịnh nhất. Vào thời nhà Thanh, thời Càn Long, móc đai bắt đầu khá phổ biến với các nhà văn học và học giả, và trở thành một phụ kiện thường được sử dụng kèm quần áo.

dai-lung-bang-ngoc-1
Móc đai làm bằng ngọc.

Vào thời cổ đại, móc đai làm bằng ngọc được coi là phụ kiện xa xỉ nhất, kỹ thuật thủ công tiên tiến nhất và thiết kế thời trang nhất, thể hiện địa vị cao quý của người sử dụng. đều được sử dụng trong sản xuất móc, phấn đấu cho cái đẹp để làm nổi bật địa vị cao quý.

Các chất liệu làm nên móc đai bao gồm vàng, bạc, đồng, sắt, ngọc, đá, v.v... Móc đai ngọc bích là loại quý giá nhất, chủ yếu là bạch ngọc (ngọc trắng) và thanh ngọc (ngọc xanh). Các vương công quý tộc đa phần đều sử dụng các móc đai bằng ngọc dát vàng để thể hiện bản sắc và khí chất của họ.

Ngoài ra, một số móc đai chạm khắc hình hoa và động vật, hoặc đầu rồng cũng trở thành phụ kiện cao quý thời cổ.

Đồ dát vàng, hoặc làm bằng sợi vàng

Vào thời cổ đại, vai trò của quần áo không chỉ là che thân, mà còn tượng trưng cho thân phận. Dùng trang phục để thể hiện đẳng cấp là một cách làm thường thấy ngày xưa. Do vậy mà người cổ đại khá coi trọng việc chọn chất liệu, màu sắc, hoa văn và thậm chí là cả kích thước các mẫu quần áo.

Để làm cho quần áo trông lộng lẫy hơn, ngành dệt may cổ đại đã cho ra đời một loại vải lụa - dệt bằng vàng, như tên gọi của nó, là dệt vàng vào trong quần áo.

Miếng vàng được lát cực mỏng.
Miếng vàng được lát cực mỏng.

Nhiều người sẽ nghi ngờ rằng độ cứng của vàng không cao, nhưng ít nhất nó vẫn là kim loại, làm thế nào mà người xưa dệt vàng thành sợi tơ mềm để làm quần áo?

Đây là một điều đáng kinh ngạc theo quan điểm của các nhà khoa học, nhưng các nghệ nhân cổ đại đã rất quen thuộc với điều này. Đầu tiên, họ cắt những miếng vàng cốm thành những lát mỏng, và sau đó, hai người thợ sẽ dùng chiếc búa nặng khoảng 3,5kg, luân phiên nhau đập mạnh xuống ít nhất là 25.000 lần, cho tới khi miếng vàng được cán mỏng "như cánh ve sầu".

Lớp vàng mỏng này sẽ được dán lên các giấy da rồi cắt thành những sợi dài và vô cùng mảnh
Sau đó lớp vàng mỏng này sẽ được dán lên các giấy da rồi cắt thành những sợi dài và vô cùng mảnh, chiều rộng không được quá 0,5 mm. Những sợi vàng này có thể thay thế các sợi kéo thông thường để dệt các mẫu và thổ cẩm.

Quần áo làm bằng sợi vàng lấp lánh.
Quần áo làm bằng sợi vàng lấp lánh.

Áo dát vàng
Có thể nói, mặc dù khoa học và công nghệ cổ đại còn chưa phát triển, nhưng những người giàu có cổ xưa đã rất coi trọng mọi mặt của cuộc sống, từ việc xây nhà, cho tới lĩnh vực ăn mặc và phụ kiện.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn