Tại sao người Trung Đông ít tin tưởng nhau?

Thứ Tư, 10 Tháng Giêng 20186:00 SA(Xem: 2568)
Tại sao người Trung Đông ít tin tưởng nhau?

middleeastpp1

Nguồn: Timur Kuran, “The Roots of Middle East Mistrust”, Project Syndicate, 08/07/2016

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Thật khó mà không nhận ra những ngờ vực đang lan tỏa khắp Trung Đông. Nhiều thí nghiệm có kiểm soát đã cho thấy: người Ả Rập có rất ít niềm tin vào người lạ, ở cả trong và ngoài nước, ít hơn rất nhiều so với người châu Âu chẳng hạn. Điều này cản trở sự tiến bộ trên nhiều mặt, từ phát triển kinh tế đến cải cách chính phủ.

Các xã hội có niềm tin thấp thường ít tham gia vào thương mại quốc tế và thu hút đầu tư cũng giảm. Và, quả thật, theo tổ chức World Values Survey cũng như các nghiên cứu có liên quan, sự tin tưởng giữa các cá nhân ở Trung Đông đã xuống thấp tới mức làm hạn chế giao dịch thương mại, chỉ còn lại giao dịch giữa những người đã biết nhau từ trước, hoặc là giao dịch thông qua người quen. Cũng vì thiếu lòng tin, người Ả Rập thường bỏ qua nhiều cơ hội kinh doanh béo bở nhờ vào các hoạt động trao đổi.

Tương tự, trong khi giao dịch với các thể chế công quyền, người Ả Rập có xu hướng tìm kiếm một người trung gian mà họ có quen biết. Một trong các hậu quả của điều đó là khiến các tổ chức này hoạt động không công bằng, hay làm giảm tính hiệu quả của chúng.

Rõ ràng cần phải giải quyết tình trạng thiếu tin tưởng ở Trung Đông. Và bước đầu tiên là phải hiểu nguyên nhân của nó.

Một đầu mối quan trọng là sự khác biệt giữa nhận thức của người Hồi giáo và người Thiên Chúa giáo. Dù không có số liệu chính thức nào, nhưng ở phần lớn Trung Đông hiện nay, số lượng người Thiên Chúa giáo là quá ít để có thể tiến hành các so sánh thống kê có ý nghĩa. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng ngẫu nhiên cho thấy rằng người mua hàng, thương nhân và nhà đầu tư trong khu vực lại cho rằng người Thiên Chúa giáo đáng tin hơn người Hồi giáo. “Luôn luôn là như vậy”, họ nói. Nghiên cứu mà tôi và nhà sử học kinh tế Jared Rubin thực hiện – xem xét các bút lục của tòa án Hồi giáo tại Istanbul vào thế kỷ 17, 18 – có thể lý giải nguyên nhân của tình trạng trên.

Tại thời điểm đó, Istanbul là một thành phố quốc tế; với khoảng 35% cư dân địa phương là người Thiên Chúa giáo, và 6% là người Do Thái. Theo Luật Hồi giáo (Sharia), người Hồi giáo phải kinh doanh theo quy định của đạo Hồi, và nếu họ muốn đưa các tranh chấp ra tòa, họ buộc phải sử dụng một tòa án Hồi giáo. Về phần mình, người Thiên Chúa giáo và người Do Thái cũng có thể kinh doanh theo quy định riêng của họ, nhưng họ cũng được tự do tuân theo luật Hồi giáo và sử dụng tòa án Hồi giáo nếu muốn. Nhưng, tất nhiên, nếu họ tham gia vào một vụ kiện chống lại một người Hồi giáo, nó sẽ phải được thụ lý bởi một tòa án Hồi giáo.

Khi một người theo đạo Hồi và một người không theo đạo Hồi ở về hai bên khác nhau trong một vụ kiện thì người theo đạo Hồi sẽ có lợi thế đáng kể. Đầu tiên, các thẩm phán đã được đào tạo theo hướng không buộc tội người Hồi giáo đồng đạo. Thứ hai, các nhân viên tòa án đều là người Hồi giáo, điều đó có nghĩa là mọi lời khai sẽ chỉ được xem xét trên quan điểm của đạo Hồi. Thứ ba, trong khi người Hồi giáo có thể làm chứng chống lại bất cứ ai, người Thiên Chúa giáo và người Do Thái giáo lại chỉ có thể làm chứng chống lại một người không theo đạo Hồi khác.

Nhưng những lợi thế này có một nhược điểm. Bởi vì hệ thống pháp luật đã tạo điều kiện để người Hồi giáo dễ vi phạm hợp đồng hơn nhưng lại không bị trừng phạt, họ đã thường xuyên quỵt nợ và không thực hiện nghĩa vụ của mình trên cương vị đối tác kinh doanh và người bán hàng. Trong khi đó, người không theo đạo Hồi – những người buộc phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình – lại giành được uy tín ngày một cao. Để phản ánh sự khác biệt trong nhận thức về rủi ro này, những người cho vay, chủ yếu là người Hồi giáo, đã tính lãi vay cho người Thiên Chúa giáo và Do Thái là 15%, thấp hơn mức 17% dành cho người Hồi giáo.

Vậy thì có vẻ nhận thức về sự tin cậy trong thế giới Ả Rập bắt nguồn, ít nhất là một phần nào đó, từ việc thực thi không đồng đều các cam kết theo luật Hồi giáo. Sự khác biệt tôn giáo trong thực thi pháp luật không kéo dài. Vào giữa thế kỷ 19, tòa án Hồi giáo đã được thay thế bởi các tòa án về cơ bản là thế tục, ít nhất là về mặt thương mại và tài chính. Từ đó trở đi, việc thực thi các cam kết trở nên công bằng hơn [giữa các tôn giáo].

Thế nhưng, số người không theo đạo Hồi ở các nước Hồi giáo chiếm đa số tại Trung Đông đã giảm đáng kể do di cư và trao đổi dân số. Kết quả là, rất ít người Hồi giáo vùng Trung Đông có kinh nghiệm làm ăn với những người không theo đạo Hồi. Tuy nhiên, chuyện người Hồi giáo không đáng tin vẫn tiếp tục được lưu truyền qua các gia đình và các mạng lưới quan hệ. Thói quen vi phạm hợp đồng cũng tiếp diễn và củng cố thêm những định kiến trước đây. Xu hướng  chỉ giao dịch với bạn bè và những người quen biết là một phản ứng tự nhiên trong môi trường có độ tin cậy thấp.

Thật trớ trêu khi những định kiến tai hại đó lại xuất phát từ một hệ thống pháp lý rõ ràng nhằm tạo lợi thế cho người Hồi giáo (vốn áp đảo về mặt quân sự lẫn chính trị) trong quan hệ xã hội và quan hệ kinh tế với người Thiên Chúa giáo và người Do Thái. Ngoài việc làm tăng chi phí giao dịch kinh tế giữa những người Hồi giáo vào thời điểm đó, các quy định nhằm hạn chế tự do tôn giáo – từ chối quyền tự do “lựa chọn pháp luật” đối với người Hồi giáo và hạn chế quyền làm chứng của những người không theo đạo Hồi – còn tạo nên một “nền văn hóa của sự mất lòng tin”, vốn đang cản trở sự tiến bộ trong các lĩnh vực khác nhau. Luật Hồi giáo do đó lại làm suy yếu các cộng đồng Hồi giáo vốn dĩ nó được thiết kế để bảo vệ.

Vào thời điểm mà nhiều phong trào chính trị đang tìm cách tái áp dụng Luật Sharia, việc hiểu được những hậu quả lâu dài mà điều đó gây ra lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Những gì Trung Đông cần ngay hôm nay không phải là luật Hồi giáo, mà là những nỗ lực trên nhiều mặt để xây dựng lại lòng tin trong cộng đồng và trong các tổ chức tư nhân và chính phủ. Làm sống lại luật Hồi giáo sẽ chỉ làm sâu sắc thêm sự thiếu hụt lòng tin, vốn là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những thất bại về kinh tế và chính trị hiện nay ở Trung Đông.

Timur Kuran là Giáo sư Kinh tế và Khoa học Chính trị tại Đại học Duke và là tác giả cuốn The Long Divergence: How Islamic Law Held Back the Middle East.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thứ Ba, 30 Tháng Giêng 20182:30 SA
Tôi luôn ủng hộ quyền tự do của nhà văn. Tự do là điều kiện thiết yếu của sáng tạo. Không có tự do, nhà văn chỉ là kẻ cơ hội, nịnh hót hoặc ăn theo nói leo.
Thứ Hai, 29 Tháng Giêng 20181:00 CH
Cái chết oan khuất của người vợ không thể ngờ sẽ đem đến kết quả bất ngờ mà đáng sợ ấy.
Thứ Hai, 29 Tháng Giêng 20185:15 SA
Tôi cầu mong những thanh niên kia chỉ là thiểu số lẻ loi chứ nếu đa phần thanh niên Việt Nam giờ mà như thế thì “vận nước”, “thế nước
Chủ Nhật, 28 Tháng Giêng 20189:00 CH
Mỗi ngày tôi mất 3 giờ để sử dụng Facebook trên điện thoại suy ra mỗi năm tôi mất gần 2 tháng cho ứng dụng này. Vì thế tôi quyết định "cai nghiện Facebook".
Chủ Nhật, 28 Tháng Giêng 20183:30 SA
10 năm mới có một lần, đúng là mừng. Nhưng có phải mừng đến như thế không? Hay xã hội triền miên chuyện buồn, nên mới chỉ qua được vòng loại thôi, mà đã như thế?!
Chủ Nhật, 28 Tháng Giêng 20181:00 SA
Tua nhanh 20 năm, ngày nay hơn 3,5 tỷ người được nối mạng (gần nửa dân số trên hành tinh) và con số này đang tăng với tốc độ khoảng 10 người/giây.
Thứ Năm, 25 Tháng Giêng 20187:00 SA
Một phụ nữ 35 tuổi người Úc gần đây đã mang lại một ý nghĩa hoàn toàn mới cho khái niệm 'nạn nhân của thời trang'
Thứ Năm, 25 Tháng Giêng 20182:00 SA
Một quan chức New Zealand được khuyến cáo về mức độ tràn lan của hoạt động cấy ghép tạng phi đạo đức đang diễn ra tại Trung Quốc.
Thứ Tư, 24 Tháng Giêng 20184:00 SA
Khoảng 15.000 năm trước, tại động Gough's Cave, ở vùng Sommerset gần Bristol, Anh Quốc, một nhóm người đã ăn thịt lẫn nhau.
Thứ Tư, 24 Tháng Giêng 20181:30 SA
Điều đầu tiên, bị cáo muốn chuyển lời xin lỗi đến bác tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Rất mong bác xem cháu là người con, người cháu trong gia đình,