Gom góp từ ngữ của miền Nam và Saigon xưa ( Trần Văn Giang hiệu đính )

Thứ Bảy, 08 Tháng Tám 20202:47 CH(Xem: 840)
Gom góp từ ngữ của miền Nam và Saigon xưa ( Trần Văn Giang hiệu đính )

Gom góp từ ngữ của miền Nam và Saigon xưa 

 

ChoBenThanhChợ Bến Thành – Sài Gòn 

 

Lời giới thiệu của TVG

Đây là một sưu tập để hoài niệm những chữ mà ngày xưa, trước năm 1975, những người Saigon / Miền Nam như tôisử dụng hàng ngày: Mèn ơi, Nghen, Hén, Hen, Hôn, Tà Tà, Cà rịch cà tang, tàn tàn,… và những câu ví von rất bình dân như: Kêu gì như kêu đò Thủ Thiêm, cà chớn cà chác, cà nhỏng cà nhỏng, cà rịch cà tang, tháng mười mưa thúi đất, cái thằng trời đánh thánh đâm lựu đạn nổ 2, 3 trái mà vẫn sống nhăn... 

Tôi thấy bài sưu tập này khá công phu và giá trị nếu nhìn qua chủ tâm và các nỗ lực không ngừng của đảng csvn, từ 1975 trước đến bây giờ, tìm mọi cách phá hoại nền văn hóa nhân bản văn hóa của VNCH. 

 Tôi đã đọc và hiệu đính một số chữ có lỗi đánh máy (typo); chỉnh lại khá nhiều chữ sai chính tả và dấu hỏi-ngã; đồng thời cũng viết bổ túc thêm định nghĩa cho hầu hết các chữ hoặc câu mà tác giả còn bỏ trống vì bất cứ lý do gì.   

Xin mời đọc cho đến hết bài (theo thứ tự từ vần A đến Y có cả thảy 515 chữ và câu). 

 

TVG 

 

 

Lời mở đầu của tác giả 

 

Xin nhờ mấy Anh Chị “comment” những chữ nào còn nhớ để góp nhặt thêm ngõ hầu lưu lại những tiếng gọi, câu nói quen thuộc dễ thương của người Saigon và miền Nam trước đây vì e rằng một ngày nào đó những chữ đó sẽ mai một… 

Giọng nói, sự pha trộn của ngôn ngữ người miền Bắc di cư vào những năm 1950 hòa cùng ngôn ngữ người Saigon, miền Tây đã tạo nên một phong cách, giai điệu mới… Như bài “Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ,” với hình ảnh cô gái chậm rãi chạy xe đạp tỏ ra bất cần mấy anh chàng theo sau năn nỉ làm quen, không biết đã bao nhiêu lần làm bâng khuâng xao xuyến lòng người nghe. 

Nhất là cái giọng người Bắc khi vào Nam đã thay đổi một cách nhẹ nhàng, ngang ngang như giọng miền Nam làm cho tiếng lóng miền Nam càng phát triển. Người Bắc di cư nói chữ “Xạo ke” dễ hơn là nói “Ba xạo.”  Chính điều dó đã làm tăng thêm một số chữ mới phù hợp với chất giọng miền Nam hơn. Chất giọng đó rất dễ nhận diện qua những cách trình bày của các MC như Nam Lộc, Nguyễn Ngọc Ngạn… mà các Anh Chị đã từng nghe trên các “Video” chương trình ca nhạc, kể chuyện... 

Đặc biệt trong dịch thuật, nếu không am hiểu văn nói của Saigon miền Nam mà chỉ dùng “Google dịch” (Google Translate) thì câu “qua biểu hổng qua qua qua đây cũng dzậy” (câu gốc là: "Hôm qua qua nói qua qua mà qua hỏng qua, hôm nay qua nói qua hỏng qua mà qua qua") đươc nó dịch ra như vầy nè: “through through through through this gaping expression too.”  Thiệt tính!  Ông Tây đọc lời dịch mà hiểu được ý thì tui chết liền… Hay như câu “giỏi dữ hôn” thì “Google dịch” xem ra cũng làm người đọc phải “ngất ngư con con tầu đi…” luôn. 

Trong văn nói, người Miền Nam hay dùng điệp từ (chữ láy) cùng với nguyên âm, hay phụ âm, hoặc dùng hình tượng một con vật để tăng cấp độ nhấn mạnh như: bá láp bá xàm, cà chớn cà cháo, sai bét bèng beng (chữ “bèng beng” chỉ là chữ tượng thanh, không có nghĩa gì cả), sai đứt đuôi con nòng nọc,… có lẽ phải dùng cả một pho sách mới ghi lại cho đủ hết. 

Với phong cách sử dụng chữ như vậy, tôi mong sẽ có một dịp nào đó viết một bài đầy đủ hơn. Hà! Ai người miền Nam thì cũng hiểu câu này: “Thôi tao chạy trước tụi bây ở lại chơi vui hén.” Ở đây “chạy” cũng có nghĩa là “đi về,” chứ không phải là động từ “chạy đi” = “to run” như tiếng Anh. 

Hay và lạ hơn, cách dùng những tựa hay lời bài hát để thành một câu nói thông dụng có lẽ phong cách này trên thế giới cũng là một dạng hiếm.  Riêng ở Miền Nam thì nhiều vô kể.  Ví dụ: Khi nghe ai nói chuyện lập đi lập lại mà không chán thì người nghe ca một đoạn: ”Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi!” hoặc khi sắp chia tay thì lại hỏi: “Đêm nay ai đưa em về!” Người ngoại quốc không biết cứ tưởng là người đó đang ca chứ hổng phải đang hỏi mình; và như khi nghe ai nói một chuyên mà ai cũng biết rồi thì lại nói là: “Xưa rồi diễm…” với cái giọng mà âm “…i…ễ…m…” kéo dài tha thướt. 

Tuy nhiên, vì những chữ này được trình bày bằng nghĩa nên cách xài nhấn âm, lên giọng của người Miền Nam không thể biểu lộ hết cái hay của nó, ví dụ như riêng câu: “Thằng cha mầy, làm gì mà mồ hôi đổ ướt hết áo dậy?” Câu “Thằng cha mầy” kéo dài hơi lại có nghĩa là gọi yêu thương chứ không phải la mắng, tương tự khi mấy cô gái nguýt (nói):”Xí! Hổng chịu đâu,” ”Xí! Cha già dịch nè!”, “Sức mấy! Ông nói gì tui ưa hổng nổi nha!”, “Cha già này khó ưa!” với cách nhấn giọng thì nghe rất dễ thương và dịu dàng nhưng khó đến gần lắm à nghen; nhưng đến khi nghe câu: “Tui nói lần cuối, tui hổng giỡn chơi với ông nữa đâu đó nghen!” thì coi chừng mà… liệu hồn đó.. 

Thật ra không phải người Saigon nào cũng biết xài hết mấy chữ này.  Chỉ có người bình dân mới dám xài những chữ như “Mả cha, Tổ mẹ” để kèm theo câu nói mà thôi. Dân nhà trí thức (?) ít ai được Ba Má cho nói như vậy.  Lỡ có nói ra là bị vả vào miệng không kịp ngáp luôn.  Giáo dục ngày xưa trong gia đình rất khó, nhất là mấy người làm nghề nhà giáo họ dạy con càng khó dữ nữa kìa. Ra đường nghe mấy đứa con nít nói “ĐM” thậm chí còn không hiểu tụi nó nói cái gì, về nhà hỏi lại chữ đó là gì, chưa gì đã bị cấm tiệt không được bắt chước, lúc đó chỉ nghe Ba Má trả lời: “Đó là nói bậy. Không được bắt chước đó nghen con.!”  Chưa kể tới chuyện người lớn đang ngồi nói chuyện mà chạy xầm xập xía vô hỏi thì cũng bị la rầy liền: “Chỗ người lớn nói chuyện không được chen vô nhớ chưa?”  

Đến năm 1980 thì cách giáo dục đã khác hẳn mà ngôn ngữ cũng bắt đầu đảo lộn từ ngay ở cấp tiểu học… Tiếng Saigon dần dần bị thay đổi, đến nay trên các chương trình “Game Show” chỉ còn nghe giọng miền Nam với câu nói: “Mời anh trả lời ạ,” “Các bạn có thấy đúng không ạ,” ... ạ… ạ …ạ… cái gì cũng ạ… làm tui thấy lạ lạ. Thêm nữa, bây giờ mà xem phim Việt Nam thì hình như diễn viên họ không còn dùng những từ ngữ Saigon xưa nữa; ngay khi kịch bản phim, hay tiểu thuyết đặt bối cảnh vào thời điểm xưa mà lại dùng ngôn ngữ hiện đại lồng vào, coi phim nghe thấy nó lạ làm sao đâu á… 

“Tò te tí te” chút, mong rằng mọi người khi đọc những chữ này sẽ hồi tưởng lại âm hưởng của Saigon một trời thương nhớ! 

Chân thành cám ơn những đóng góp của mọi người. 

Trân trọng, 

 

Nguyễn Cao Trường 

  

 

1. A-ma-tưa(ơ) = không chuyên nghiệp (gốc Pháp Amateur).
2. À nha = thường đi cuối câu mệnh lệnh dặn dò, ngăn cấm - Không chơi nữa à nha.
3. Áng chừng, đâu chừng, hổng chừng, dễ chừng = dự đoán khoảng cách không gian hoặc thời gian - Từ đây qua kia áng chừng 500 thước, Đâu chừng thằng Sáu chiều nay nó dzìa tới đó bây.
4. Anh em cột chèo = liên hệ gia đình giữa hai người đàn ông / thanh niên lấy hai chị em ruột.
5. Áo ca-rô = áo có kẻ ô (Bắc).
6. Áo thun ba lá = áo thun ba lỗ, áo May-ô (Bắc, gốc Pháp Maillot).
7. Áp-phe = mánh, trúng mánh  - Chạy áp-phe vớt cú chót kiếm tiền! (gốc tiếng Pháp Affair).
8. Áp-phê = hiệu ứng, hiệu quả - Để hết áp-phê bên trái chúi đầu cơ xuống kéo nhẹ là nó qua liền hà (chơi billard).
9. Ăn coi nồi, ngồi coi hướng = ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
10. Ăn cộc đi con = ăn nhiều dzô (Gò Công).
11. Ăn hàng = ăn uống, đi ăn cái gì nhẹ như chè, chứ không phải ăn cơm trưa-chiều. (Thường chỉ có con gái mới dám đi ăn hàng, hồi xưa con trai không dám đi ăn hàng vì bị chọc thì mắc cở lắm, thêm nữa, gia đình giáo dục con trai khác với con gái, thường Ông Bà Bô hay nói: “Con trai phải ra con trai nghen, ai đời con trai mà ăn hàng như con gái.” Con gái mà đi ăn hàng nhiều cũng bị la rầy. (Sau này mấy tay trộm cướp cũng xài từ “ăn hàng,” tức là đi giựt đồ, cướp bóc từ sau 1975).
12. Âm binh = cô hồn, các đảng, phá phách - Mấy thằng âm binh = mấy đứa nhỏ phá phách.
13. Bà chằng lửa = người phụ nữ dữ dằn - Dữ như bà chằng!
14. Bá chấy, bá phát = quá xá – Ngon bá chấy bò chét chó! (Là ngon quá trời đất luôn!)
15. Ba ke, Ba xạo = xạo – sau 1975, còn có thêm chữ “ba đía” rồi bớt dần thành “đía” (đừng có đía= đừng có nói xạo).
16. Ba lăm = 35 = có máu dê gái (dê 35).
17. Ba lơn = tính hay đùa cợt, chòng ghẹo người khác nhưng không gây hại, hoặc có chủ đích hại người.
18. Bá Láp, Bá Xàm = nói tầm xàm, không đáng tin.
19. Bà tám = nhiều chuyện  - Thôi đi bà tám = đừng có nhiều chuyện nữa, thôi đừng nói nữa.
20. Ba Tăng = Bảo kê (gốc Pháp Patent).
21. Bang ra đường = chạy ra ngoài đường lộ mà không coi xe cộ, hoặc chạy ra đường đột ngột, hoặc chạy nghênh ngang ra đường.
22. Bành ki = bự, to lớn.
23. Banh ta lông = hư / hỏng bét hết, như xong chuyện rồi (gốc từ cái “Talon” / “vỏ xe” bị bể).
24. Bảnh tỏn, Sáu bảnh = đẹp ra dáng - Mặc đồ vô thấy bảnh tỏn ghê đó nha.
25. Banh xà lỏng = cùng nghĩa với Banh ta lông (tiếng lóng?).
26. Bạt mạng = bất cần, không nghĩ tới hậu quả - Ăn chơi bạt mạng.
27. Băng = nhà băng, ngân hàng (gốc Pháp Banque).
28. Bặc co tay đôi = đánh nhau tay đôi không có vũ khí (từ tiếng Pháp?).
29. Bất kể = liều.
30. Bặm trợn = trông dữ tợn, dữ dằn.
31. Bất thình lình = đột ngột, bất tử.
32. Bầy hầy = bê bối, ở dơ.
33. Bẹo = chưng ra, Bệu (gốc từ cây Bẹo gắn trên ghe để bán hàng ở chợ nổi ngày xưa).
34. Bẹo gan = chọc cho ai nổi điên, tức ứa gan.
35. Bề hội đồng = hiếp dâm tập thể (!)
36. Bển = bên đó, bên ấy - Tụi nó đang chờ con bên bển đó!
37. Bí lù = không biết đường trả lời, không biết gì.
38. Bí xị = buồn.
39. Biết đâu nà, biết đâu nè = biết đâu đấy.
40. Biết sao hôn! (không cần giải thích thêm).
41. Biệt tung biệt tích, biệt tăm biệt tích, mất tích, mất tiêu, đâu mất = không còn thấy mặt, mất dấu vết.
42. Biểu, bảo = lời trách nhẹ nhàng - Ai biểu hổng chịu nghe tui mần chi! (nhưng câu “ai biểu” thì lại có hàm ý người nào đó “tự làm thì ráng mà chịu”).
43. Bình thủy = phích nước, bình đựng nước nóng.
44. Bình dân = bình thường, không màu mè.
45. Bít bùng = kín mít.
46. Bo bo xì = nghỉ chơi không quen nữa (động tác lấy tay vừa đập đập vào miệng vừa nói của con nít).
47. Bỏ qua đi tám = cho qua mọi chuyện, đừng quan tâm nữa (chỉ nói khi người đó nhỏ vai vế hơn mình).
48. Bỏ thí = bỏ không còn quan tâm.
49. Bồ = gọi bạn thân thiết - Ê chiều nay bồ rãnh tạt qua nhà chở tui nghen.
50. Bồ đá = bị bạn gái bỏ.
51. Bội phần, muôn phần = gấp nhiều lần.
52. Bồn binh = bùng binh, vòng xoay (nay).
53. Buồn xo, buồn hiu = rất buồn - Làm gì mà coi cái mặt buồn xo dzậy?
54. Buộc / Buột = cột / bất chợt xổ ra – Buột miệng.
55. Bữa = buổi / từ đó tới nay - Ăn bữa cơm rồi về, Bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi?
56. Cà chớn cà cháo = dở, không ra gì cả, còn kém lắm.
57. Cà chớn chống xâm lăng, Cù lần ra khói lửa. (một câu nói trong thời chiến) cùng nghĩa với cá chớn.
58. Cà giựt = lăng xăng, lộn xộn, không tốt.
59. Cà kê dê ngỗng = dài dòng, nhiều chuyện không đi đến đâu.
60. Cà lăm = nói lắp.
61. Cà Na Xí Muội = chuyện không đâu vào đâu.
62. Cà nghinh cà ngang = nghênh ngang.
63. Cà nhỏng = rảnh rỗi không có việc gì để làm - Đi cà nhỏng tối ngày. Có khi còn gọi là nhỏng nhỏng.
64. Cà lơ phất phơ = không có mục đích rõ ràng.
65. Cà rem = kem.
66. Cà rề = chậm chạp.
67. Cà rịch cà tang = chậm rãi, không phải vội vàng.
68. Cà rởn = giởn chơi cho vui, không có chủ đích gì.
69. Cà tàng = bình thường, quê mùa.
70. Cà tong cà teo = ốm yếu, gầy gò.
71. Cà tưng cà tửng = không yên ổn.
72. Cái thằng trời đánh thánh đâm =  người xấu tính.
73. Càm ràm = nói tùm lum không đâu vào đâu / nói nhây.
74. Cạn tàu ráo máng; ăn cháo đá bát = vô ơn.
75. Càn quấy = phá phách hư hỏng.
76. Cạo đầu khô = bị phạt nặng.
77. Cảo = kéo, rít (cảo điếu thuốc gần tới đót).
78. Cảo Dược = làm cho thẳng
79. Có chi hông? = có chuyện gì không?
80. Coi = làm thử, thách thức - Nói nghe coi? Làm coi.
81. Coi bộ ngon ăn, ngon ăn đó nghen = chuyện dễ dàng (không có liên quan gì tới thức ăn ngon dở) – Chuyện này làm coi bộ ngon ăn đó nghen!
82. Coi được hông? (không cần giải nghĩa).
83. Còn ai trồng khoai đất này = chính là thủ phạm, “Tôi đây chớ ai.”
84. Còn khuya = còn lâu - Ờ!  Mày ngon nhào vô kiếm ăn, còn khuya tao mới sợ mày!
85. Con ở = người ở, (nay gọi là Oshin từ tựa đề một bộ phim của Nhật).
86. Cô hồn, các đảng = phần tử không tốt của xã hội.
87. Công tử bột = nhìn có dáng thư sinh yếu đuối.
88. Cù lần, cù lần lửa = từ gốc từ con cù lần chậm chạp, chỉ người quá chậm lụt trong việc ứng đối với chuyện chung quanh - Thằng này cù lần quá!
89. Cua gái = tán gái.
90. Cụng = chạm.
91. Cuốc = chạy xe - Tui mới làm một cuốc từ Hóc môn dzìa Saigon cũng được trăm hai bỏ túi!
92. Cưng = cách gọi trìu mến - “Cưng à!” Dân Trảng bàng nè! Trên “cưng”dzẫn” xài dzậy hả?
93. Cứng đầu cứng cổ = khó dạy.
94. Chả = Cha đó.
95. Chà bá, tổ chảng, chà bá lữa = to lớn, bự.
96. Cha chả = gần như từ cảm thán “Trời ơi!” - Cha chả! Hổm rày đi đâu biệt tích dzậy ông nội?
97. Chàng hãng chê hê = ngồi banh hai chân ra - Con gái con lứa gì mà ngồi chàng hãng chê hê hà.  Khép chưn lại dùm coi!
98. Cháy túi = hết tiền.
99. Chạy, Dọt, Chẩu = đôi khi cũng có nghĩa là đi về - Thôi tụi bây ở chơi tao chạy (dọt) trước à! (Chẩu: 走 nguyên gốc âm lấy từ tiếng Quảng Đông).
100. Chạy te te = chạy thẳng một nước – Con nhỏ vừa nghe Bà Hai kêu ra coi mắt thì nó xách đít chạy te te ra đằng sau trốn mất tiêu rồi.
101. Chạy tẹt ga, đạp hết ga= kéo hết ga, nhanh hết sức – cũng có nghĩa là chơi thoải mái tới cùng – Mày cứ chơi “tẹt ga” mát trời ông địa đi, đừng có sợ gì hết, có gì tao lo rồi (ga = tay ga của xe).
102. Chạy u đi = ?
103. Chạy vắt giò lên cổ, Chạy sút quần, Chạy đứng tóc = chạy cho mau.
104. Chằng ăn trăn quấn = có vẻ dữ dằn lắm.
105. Chăm bẳm = nhìn rất tập trung - Dòm cái gì mà dòm chi chăm bẳm vậy?
106. Chậm lụt = chậm chạp, khờ khạo.
107. Chận họng = không cho người khác nói hết lời.
108. Chém vè (dè) = chạy trốn, trốn một cuộc hẹn trước.
109. Chén = bát.
110. Chèn đét ơi, mèn đét ơi, chèn ơi, Mèn ơi = kêu trời, ngạc nhiên.
111. Chèo queo = một mình - Làm gì buồn nằm chèo queo một mình dzậy?
112. Chết cha mày chưa! Có chiện gì dậy? = một cách hỏi thăm xem ai đó có bị chuyện gì bị rắc rối không.
113. Chì = giỏi - Anh ấy học chì lắm đó.
114. Chiên = rán (Bắc).
115. Chình ình, chầng dầng = ngay ở trước mặt - Nghe tiếng gọi thằng Tư quay đầu qua thì đã thấy tui chình ình trước mặt.
116. Chịu = thích, ưa, đồng ý - Hổng chịu đâu nha, nè! Chịu thằng đó không tao gả luôn.
117. Chỏ mũi, chỏ mỏ = xía, xen, chen vào chuyện người khác.
118. Chói lọi = chói sáng.
119. Chỏng mông = mệt bở hơi tai - Làm chỏng mông luôn đây nè.
120. Chỗ làm, Sở làm = hãng xưỡng, cơ quan công tác.
121. Chột dạ = nghe ai nói trúng vào cái gì mình muốn dấu.
122. Chơi chỏi = chơi trội, chơi qua mặt.
123. Chùm hum = ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chỗ không nhúc nhích, không quan tâm đến ai - Có gì buồn hay sao mà ngồi chùm hum một chỗ dzậy?
124. Chưn = chân.
125. Chưng hững = ngạc nhiên.
126. Chưng ra = trưng bày.
127. Dạ, Ừa (ừa/ừ chỉ dùng khi nói với người ngang hàng) = Vâng, Ạ.
128. Dạo này = thường / nhiều ngày trước đây đến nay - Dạo này hay đi trễ lắm nghen! / thường.
129. Dấm da dấm dẳng = không có quyết định rõ ràng, nói không rõ.
130. Dân chơi cầu ba cẳng = dân giang hồ (cũng có nghĩa khác là chịu chơi) - Nhìn mày giống dân chơi cầu ba cẳng quá đi!
131. Dây, không có dây dzô với nó nghe chưa = không được dính dáng đến người đó.
132. Dè chừng = coi chừng - Tui lỡ nói lớn chút ai dè nó nghe được, chứ thiệt tình tui đâu có muốn.
133. Dễ tào = dễ sợ.
134. Dì ghẻ = mẹ kế.
135. Dị hợm = quái dị, không giống ai.
136. Dĩa = Đĩa.
137. Diễn hành, Diễn Binh = diễu hành, diễu binh (chữ diễu bây giờ dùng không chính xác, thật ra là “diễn” mới đúng).
138. Diễu dỡ = làm trò hề không ai cười nổi.
139. Dọt lẹ = chay trốn cho nhanh.
140. Dô diên (vô duyên) = không có duyên - Người đâu mà vô diên thúi vậy đó hà (chữ “thúi’ chỉ để tăng mức độ chứ không có nghĩa là hôi thúi).
141. Dù = Ô.
142. Du ngoạn = đi thăm cho biết.
143. Dục (vụt) đi = vất bỏ đi (giọng miền nam đọc Vụt = Dục âm cờ ít đọc thành âm tờ, giống như chữ “buồn” giọng miền nam đọc thành “buồng”).
144. Dùng dằng = ương bướng, không quyết đoán.
145. Dữ đa, Dữ hôn, Dữ… hôn  = rất (giỏi dữ hén cũng có nghĩa là khen tặng nhưng cũng có nghĩa là đang răn đe trách móc nhẹ nhàng tùy theo ngữ cảnh và cách diễn đạt của người nói.  Ví dụ: “Dữ hôn! lâu quá mới chịu ghé qua nhà tui nhen,” nhưng “mày muốn làm dữ phải hôn” thì lại có ý răn đe nặng hơn) Dữ đa thường dùng cuối câu: “Cái này coi bộ khó kiếm dữ đa.”
146. Dzìa, dề = về - Thôi dzìa nghen (câu này cũng có thể là câu hỏi hoặc câu chào tùy ngữ điệu lên xuống của người nói).
147. Dừa dừa (vừa) thôi nhen = đừng làm hay nói quá.
148. Đá cá lăn dưa = hạng lưu manh, không được lương thiện.
149. Đa đi hia = đi chỗ khác chơi.
150. Đã nha! = sướng nhỉ!
151. Đài phát thanh = đài phát tiếng nói.
152. Đánh dây thép = gửi điện tín.
153. Đàng = đường - Đi một đàng học một sàng khôn.
154. Đánh đàn đánh đọ = đánh đàn - Học thì lo học không “đánh đàn đánh đọ” nhe hông. (Một cách để chê việc đánh đàn bằng cách ghép thêm hai từ láy đánh đọ phía sau).
155. Đánh tù xầm, Quảnh tù xì = oẳn tù tì (trò chơi bằng tay ra kéo, búa, bao) (gốc Anh ngữ: One two three…)
156. Đâm ra = thành ra.
157. Đào hát = nữ diễn viên tuồng cải lương. 

158. Đặng = được - Qua tính vậy em coi có đặng hông?
159. Đầu đường xó chợ = hạng lưu manh, bất lương.
160. Đen như chà dà (và) = đen thui, đen thùi lùi, rất đen.
161. Đẹp trai con bà Hai = đẹp.
162. Đế = chen, chèn thêm vào giữa - Đang nói nó đế vô một câu chận họng làm tui câm luôn.
163. Đêm nay ai đưa em dzìa = hôm nay về làm sao, khi nào mới về (một cách hỏi) – từ bài hát “Đêm nay ai đưa em về” của Nguyễn Ánh 9.
164. Đi bang bang = đi nghênh ngang.
165. Đi bụi = bỏ nhà đi lang thang.
166. Đi cầu = đi đại tiện, đi nhà xí (Bắc).
167. Đi mần = đi làm.
168. Đồ bỏ đi = đồ hết xài - Người gì xài hổng dô, đúng là đồ bỏ đi mà.
169. Đồ già dịch = chê người mất nết tùy ngữ cảnh và cách nhấn âm, kéo dài thì sẽ có hàm ý khác.
170. Đồ mắc dịch = xấu nết (tuy nhiên, đối với câu Mắc dịch hông nè! có khi lại là câu nguýt khi bị ai đó chòng ghẹo).
171. Đờn = đàn.
172. Đùm xe = Mai-ơ.
173. Đực rựa = đàn ông, con trai.
174. Đừng có mơ, Đừng có hòng = đừng mong chuyện sẽ xảy ra.
175. Được hem (hôn/hơm)? = được không? Chữ hông đọc trại thành hôn, hem hoặc hơm.
176. Gác dan = bảo vệ, người gác cổng (gốc Pháp Guardian).
177. Gần xịt = thiệt là gần.
178. Ghẹo, chòng ghẹo = chọc quê.
179. Ghét = tùy cách nhấn giọng và kéo dài thì… ghét chưa chắc đã ghét mà chỉ là câu nói thể hiện thương, hay chấp nhận nữa hổng chừng.  Ngó nó mà thấy ghét ghê ê ê ê. ! (ghét thương) chớ hồng phải “Nhìn (giọng Bắc) thấy ghét.”  Dòm cái bản mặt nó mà phát ghét (ghét thiệt).
180. Ghê = rất – Hay ghê há (tùy theo ngữ cảnh và âm điệu thì nó mang ý nghĩa là khen hoặc chê).
181. Ghệ linh= con gái đẹp (lóng?).
182. Gớm ghiếc = nhìn thấy ghê, không thích.
183. Già dịch = già dê.
184. Già háp = già khằn, già cú đế.
185. Giục giặc, hục hặc = đang còn gây gỗ, không thèm nói chuyện với nhau - Hai đứa nó đang hục hặc!
186. Ghi-đông = tay lái xe. 

187. Hãng, Sở = công ty, xí nghiệp.
188. Hay như = hoặc là.
189. Hầm = nóng - Trời hầm quá ngồi không mà người nó đổ mồ hôi ướt nhẹp.
190. Hầm bà lằng (gốc tiếng Quảng Đông) = đủ thứ, đủ loại.
191. Hậu đậu = làm việc gì cũng không xong, không tới nơi tới chốn.
192. Héo queo = xụi lơ, bí xị, nhìn không hấp dẫn.
193. Hết = chưa, hoặc chỉ nâng cao mức độ nhấn mạnh - Chưa làm gì hết.
194. Hết trơn hết trọi = chẳng, không (“Hết Trọi” thường đi kèm thêm cuối câu để diễn tả mức độ) - Ở nhà mà hổng dọn dẹp phụ tui gì hết trơn (hết trọi) há!
195. Hôi mợi= thôi mày ơi.
196. Hồi nảo tới giờ = từ xưa tới nay.
197. Hồi nẳm = lâu lắm rồi không nhớ ngày tháng.
198. Hổm bữa = hôm trước.
199. Hổm rày, mấy rày = từ mấy ngày nay.
200. Hổng có chi! = không có sao đâu.
201. Hổng chịu đâu = (không cần giải thích thêm).
202. Hổng thích à nhen! = (không cần giải thích thêm).
203. Hổng xi-nhê = không ăn thua, không có ý nghĩa gì hết - Kiếm nhiêu đây tiền đâu có xi nhê gì (gốc Pháp Signifier).
204. Hột = hạt (hột đậu đen, đỏ); người miền Nam nói ghép thành “Trứng hột vịt” thay vì chỉ nói “Trứng vịt” như người ngoài Bắc.
205. Hờm = chờ sẵn - Tui hờm sẵn rồi chỉ chờ thằng kia nó chạy ra là tui cho nó một đá cho nó lăn cù mèo luôn.
206. Hợp gu (Pháp Gout)= cùng sở thích.
207. Hớt ha hớt hãi = hấp tấp và sợ hãi - Nó hớt hơ hớt hãi chạy vào báo tin.
208. Hú hồn hú vía = quá sợ.
209. Kẻo = coi chừng - Trời ui! Giờ không đi sớm kẻo trời nó mưa là ướt chèm nhẹp luôn đó nhe.
210. Kể cho nghe nè! = nói cho nghe.
211. Kêu gì như kêu đò thủ thiêm = kêu rất lớn tiếng, kêu om trời.
212. Kêu giựt ngược = kêu gấp bắt buộc người khác phải làm theo ý mình - Kiu cái gì mà kiu như giựt ngược người ta hà!
213. Kinh thiên động địa = chuyện động trời.
214. Khán thính giả (người xem kịch, cải lương, qua truyền hình) trong đó Khán (看): xem – Thính (聽): nghe, giả (者): người, tổng hợp lại là người nghe nhìn, giờ thì kêu ngắn gọn là khán giả: chỉ biết xem mà không nghe được, đỡ cãi.
215. Khính = ké – Mặc đồ khính, đi ăn khính.
216. Khỉ đột = không giống ai.
217. Khỉ gió = không giống ai.
218. Khỉ khô = không quan trong.
219. Khó ưa = chê (nhưng có lúc lại là khen mới chết!) - Mặt thằng nhỏ khó ưa quá hà!
220. Khoái tỉ = thích gần chết.
221. Không thèm = không cần - Làm gì dữ dạ tui đâu có thèm đâu mà bày đặt nhử qua nhử lại trước mặt tui?
222. Lâu lắc = chậm trễ, trễ nãi hàm ý trách móc - Kêu hoài sao không mở cửa, làm gì trong trỏng mà lâu lắc vậy?
223. Lai căng = không phải nguyên bản.
224. Làm (mần) cái con khỉ khô = không thèm làm.
225. Làm (mần) dzậy coi được hông? = coi không vừa lòng.
226. Làm dzậy coi có dễ ưa không? = một câu cảm thán tỏ ý không thích hay thích (tùy theo ngữ cảnh).
227. Làm gì mà toành hoanh hết zậy? = làm hỏng hết chuyện.
228. Làm mướn = làm thuê.
229. Làm nư = lì lợm, Làm cho lợi gan.
230. Làm um lên = làm lớn chuyện.
231. Láng cóng = bảnh bao (có thể do hồi xưa ra đường chải đầu tóc bóng mượt, đánh giày bóng như gương, quần áo thẳng thớm nên ra từ này), hết nhẵn không còn gì.
232. Lanh chanh = không yên.
233. Lạnh xương sống = đáng sợ.
234. Lao-cần (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa).
235. Láo háo = khoảng chừng (tuổi nó láo háo cở tuổi tao chứ mấy).
236. Lao-tổn (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa).
237. Lặc lìa = muốn rớt ra, rời ra nhưng vẫn còn dính với nhau chút xíu.
238. Lặc lìa lặc lọi = coi thê thảm, không còn ra hình dạng gì.
239. Lắm à nhen = nhiều, rất (thường nằm ở cuối câu.  Ví dụ: thương lắm à nhen).
240. Lăn cù mèo = lăn long lóc, té ngữa, lăn chiêng.
241. Lắt lư con lạc đà, con tàu đi = nghiêng qua nghiêng lại không vững.
242. Lầm lầm lì lì = không nói không rằng mặt nghiêm tỏ ý không thích.
243. Lần = tìm kiếm -  Biết đâu mà lần (biết tìm từ chỗ nào?).
244. Lần mò = tìm kiếm, cũng có nghĩa là làm chậm chạm - Thằng tám nó lần mò cái gì trong đó dzậy bây?
245. Lấy le = khoe khoang.
246. Lẹt đẹt = ở phía sau, thua kém ai – Đi lẹt đẹt! Làm cái gì mà cứ lẹt đẹt hoài vậy.
247. Leo cây, Leo cây me = thất hẹn - Nãy giờ chờ muốn thấy bà.  Chắc thằng Tám nó cho tụi mình leo cây rồi!
248. Lèo = thất hẹn – Hứa lèo.
249. Lề mề = lôi thôi.
250. Lên bờ xuống ruộng = lắm chuyện, phức tạp.
251. Lên hơi, lấy hơi lên = bực tức - Nghe ông nói tui muốn lên hơi (lấy hơi lên) rồi đó nha!
252. Liệu = tính toán - Thằng Ba liệu coi đi sớm một chút kẻo bị kẹt xe thì lỡ hết chiện đó nhen!
253. Liệu hồn = coi chừng.
254. Líp-ba-ga, Mút mùa Lệ Thủy = cứ tiếp tục thoải mái, không có giới hạn.
255. Lóng rày = hổm rày (trong thời gian gần đây).
256. Lô = đồ giả, đồ dỡ, đồ xấu (gốc từ chữ “local” do một thời đồ trong nước sản xuất bị chê vì xài không tốt).
257. Lộn = nhầm - Nói lộn nói lại.
258. Lộn xộn = làm sai thứ tự, rối.
259. Lục cá nguyệt = sáu tháng - Nộp báo cáo sáu tháng một lần (Nộp báo cáo lục cá nguyệt).
260. Lục đục = không hòa thuận - Gia đình nó lục đục quài (Đôi khi lại có nghĩa khác, gây tiếng động nhỏ: “Làm gì lục đục ở sau bếp hoài vậy bây?”)
261. Lụi hụi = làm hoài không xong - Lụi hụi một hồi cũng tới rồi nè!
262. Lùm xùm = rối rắm.
263. Lung tung xà beng = phức tạp lắm.
264. Lừng mặt = quen quá không còn sợ nữa - Chơi với nó riết nó lừng mặt mình luôn nhen!
265. Lười chẩy thây = làm biếng quá lắm.
266. Má = mẹ.
267. Mả = mồ.
268. Ma lanh, Ma le (gốc Pháp Malin) = khôn lỏi.
269. Mã tà (gốc Pháp) = cảnh sát.
270. Mari phông-tên = con gái thành phố quê mùa.
271. Mari sến = quê mùa.
272. Mạnh giỏi = mạnh khỏe.
273. Mát trời ông địa, tẹt ga = thoải mái.
274. Máy lạnh = máy điều hòa nhiệt độ.
275. Mắc cười = buồn cười.
276. Mắc dịch = mất nết, không đàng hoàng, lẳng lơ, xỏ lá, bỡn cợt (Nhưng cũng có nghĩa nói ngầm là đồng ý nữa - Ví dụ: “Giữ đi, mắc dịch không hà trả lại tui mần chi?”)
277. Mắc địt = dở ẹc; một cách chê cái gì đó rất dở.
278. Mặt chù ụ một đống, Mặt chầm dầm = tỏ vẻ không được vừa ý.
279. Mần ăn = làm ăn.
280. Mần chi = làm gì.
281. Mậy = mày - Thôi nghen mậy (Đừng làm nữa).
282. Mé = phía - Nhà ổng ở xích mé bên kia kìa.
283. Mé = tỉa nhánh.
284. Mè nheo = mèo nheo, quấy rầy.
285. Méo xẹo = thất vọng - Cầm bài thi nhìn điểm xong thằng Tư mặt méo xẹo. Về nhà thể nào cũng bị Ba nó rầy.
286. Mét = mách.
287. Miệt = kèm theo để chỉ một vùng đất, địa danh - Miệt Hóc Môn, Miệt dưới, Miệt vườn.
288.  Miệt, mai, báo, tứ, nóc… chò = 1, 2, 3, 4, 5….  10 (tiếng Tàu?)
289. Mình ên (gốc Khmer) = một mình - Đi có mình ên, làm mình ên). 

290. Mò mẫm rờ rẫm sờ sẩm (hài) = mò.
291. Mở bum, mở ban = mở party nhẩy đầm.
292. Mợi = mày ơi.
293. Mồ tổ! = câu cảm thán.
294. Một lèo, một hơi = một mạch.
295. Muỗng = thìa, môi.
296. Mút mùa lệ thủy = kéo dài mãi không dứt.
297. Mút chỉ cà tha = lâu dài.
298. Mừng húm = mừng lắm.
299. Mưa thúi đất (nam bộ) xem thêm tháng mười “mưa thúi đất” để rõ hơn = cơn mưa dài, dầm dề.
300. Nam Tào Bắc Đẩu = chuyện sinh tử? (Gốc Tàu?)
301. Nào giờ = từ trước tới nay.
302. Năn nỉ ỉ ôi = năm nỉ không ngừng.
303. Niềng xe = vành xe.
304. Nói nghe nè! = gọi sự chú ý.
305. Nón An toàn = mũ Bảo hiểm.
306. Nổ banh xác = nói láo (như bị bom nổ rất gần!)
307. Nổ dữ dội= quăng lựu đạn (ngày xưa có chuyện vc hay chọi “lụ đạn” vô chợ khủng bố dân lành).
308. Nổi cơn tam bành = giận dữ.
309. Nước lên, nước xuống, nước rồng (thủy triều) = chuyện có đầu có đuôi?
310. Nước phông-tên = nước thủy cục, nước máy (gốc Pháp Fontaine).
311. Ngang tàng = bất cần đời.
312. Nghen, hén, hen, nhen = nhắc nhở cho nhớ.
313. Nghía = ngắm.
314. Ngó = nhìn, dòm.
315. Ngó lơ = làm lơ, nhìn chỗ khác không để ý tới ai đó.
316. Ngoại quốc = nước ngoài.
317. Ngõ đường = ngã đường (ngõ ba ngõ tư).
318. Ngon bà cố = thiệt là ngon.
319. Ngộ = đẹp, lạ - Cái này coi ngộ hén!
320. Ngồi chồm hỗm = ngồi co chân (chỉ động tác co gập hai chân lại theo tư thế ngồi… Nhưng không có ghế hay vật tựa cho mông và lưng) - Chợ chồm hổm (chợ không có sạp).
321. Ngủ nghê = ngủ (chữ Nghê cũng là ngủ, chữ láy).
322. Ngựa đực, Ngựa cái = xãnh xẹ, không được đứng đắn.
323. Người Thượng = người dân tộc miền núi cao.
324. Nhá qua nhá lại = cử chỉ nhứ bên phải bên trái.
325. Nhà đèn = công ty điện lực.
326. Nhà thép = bưu điện – Đánh dây thép.
327. Nhà thuốc Gác = nhà thuốc Tây mở cửa 24/24.
328. Nhan nhãn = thấy nhiều đằng trước mặt.
329. Nhào vô kiếm ăn, ngon vô đây = lời thách đố - Dám chơi hông, Ngon vô đây!
330. Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi! = đừng nhắc chuyện đó nữa, biết rồi đừng kể nữa – trích lời trong bài hát “Ngày đó xa rồi” của Tú Nhi.
331. Nhậu = một cách gọi khi uống rượu, bia  - Nói gì thì nói giờ nhậu cái đã.
332. Nhí nhảnh = kiểu, tính con gái mới lớn.
333. Nhiều chiện = nhiều chuyện.
334. Nhìn khó ưa quá (nha) = không thích, lời chê bai (nhưng đôi khi, trong nhiều tình huống, lại là khen đẹp nếu thêm chữ “nha” ở phía sau).
335. Nhóc, đầy nhóc = nhiều.
336. Nhột = buồn.
337. Nhử qua nhử lại = đưa qua đưa lại cái gì đó trước mặt ai (tương tự “nhá qua nhá lại – nhá tới nhá lui” nhưng cấp độ mạnh hơn).
338. Nhựt = Nhật.
339. Òm = dễ òm, dị òm, dễ lắm.
340. Oải chè đậu; quải chè đậu = quá ngán ngẩm.
341. Ông bà Bô = ba má (thường những người có học vấn thì dùng chữ này để nói chuyện với bạn về ba má mình).
342. Ông bà ông vải = Ông bà.
343. Ồng Cò = cảnh sát.
344. Ổng, Bả, Cổ, Chả = Ông, Bà, Cô, Cha ấy = ông đó ổng nói (ông ấy nói).
345. Pê Băm-Tám = đồ khui bia, khi khui nghe một cái Bốp giống nổ súng P-38.
346. Phi cơ = máy bay, tàu bay.
347. Phờ râu = rất mệt, mệt lử.
348. Qua bên bển, vô trong trõng, đi ra ngoải = một hướng di chuyển.
349. Quá cỡ thợ mộc = quá sức mình.
350. Qua đây nói nghe nè! = kêu ai đó lại gần mình.
351. Quá xá = nhiều - Dạo này kẹt chiện quá xá!
352. Quá xá quà xa = quá nhiều, quá đã.
353. Quắc cần câu = nhậu say cho đến hết biết đường về.
354. Quăng lựu đạn (ngày xưa hay có chuyện vc quăng “lựu đạn” vô chợ khủng bố dân lành).
355. Quần què = (chửi tục) chỉ cái quần của phụ nữ ngày có kinh nguyệt, dơ dáy.
356. Quấy = làm sai (dùng cho con nít thì lại khác, có ý là vừa quậy phá vừa khóc) - Thằng nhóc này hay khóc quấy quá!
357. Quê một cục = xấu hổ.
358. Quê xệ = xấu hổ.
359. Quề trớt = huề vốn, cũng như không, kết quả không thay đổi.
360. Quởn = hưởn, rảnh rỗi.
361. Quới nhơn = Quý nhân ≠ Cô hồn các đảng (Quới nhơn = Quý nhơn, quý nhân), người tốt đến giúp đỡ.
362. Ra giường (drap) = vải trải giường (tui không tính đưa chữ này vô nhưng bây giờ họ xài chữ “chăn, ga, gối, nệm” nghe nó kỳ cục gì đâu, đã vậy còn dịch là khăn trải giường, khăn chỉ dùng để lau, cũng không thể nào lớn như cái tấm vải trải giường được).
363. Ra giêng = qua năm mới, qua tết.
364. Rành = thành thạo, thông thạo, biết - Tui hồng rành đường này nhen, tui rành nó tới “sáu câu vọng cổ.”
365. Ráo = hết.
366. Rạp = nhà hát (rạp hát), dựng một cái mái che ngoài đường lộ hay trong sân nhà để cho khách ngồi cho mát - Dựng rạp làm đám cưới.
367. Rân trời = Rần trời, um sùm, có tiếng động lớn.
368. Rầu thúi ruột = buồn thê thảm.
369. Riết = liên tục, hoài – Mần riết (làm hoài).
370. Ro ro = nhuần nhuyễn - Mới tập chạy xe Honda mà nó chạy ro ro hà, Nó trả bài ro ro.
371. Rốp rẻng (miền Tây) = làm nhanh chóng.
372. Rốt ráo (miền Tây) = làm xong nhanh chóng và có hiệu quả.
373. Rủng rỉnh = có nhiều tiền trong túi.
374. Ruột xe = xăm (Bắc, gốc Pháp Chambre).
375. Rượt = chạy đuổi theo.
376. Sai bét bèng beng = rất sai, sai quá trời sai!
377. Sai đứt đuôi con nòng nọc = như “Sai bét bèng beng,” sai bét.
378. Sạp = quầy hàng.
379. Sáu Bảnh = bảnh trai.
380. Sấp nhỏ = tụi nhỏ, mấy đứa nhỏ, mấy đứa con còn nhỏ.
381. Sến = cải lương màu mè - Mặc đồ gì sến quá trời dzậy cha nội? (Nhạc sến lại có ý nghĩa khác không phải là nhạc cải lương).
382. Sến = hồi xưa là người làm giúp việc / đầy tớ trong nhà. 
383. Sên xe = xích (gốc Pháp Chain).
384. Sếp (súp) phơ = tài xế.
385. Sợ teo bu gi = sợ gần chết.
386. Sống lây lất qua ngày = muốn chết mà không đặng.
387. Sụm bà chè = mệt rã rời, đi hết nổi.
388. Sức mấy = đâu có buồn gì - Sức mấy mà buồn.
389. Sườn xe = khung xe.
390. Tả Pín Lù / Hầm bà lằng (gốc Quảng Đông) = đủ loại.
391. Tà tà, tàn tàn, cà rịch cà tang = từ từ, thủng thẳng.
392. Tài lanh = làm tài khôn không đúng lúc.
393. Tài khôn = như tài lanh.
394. Tàn mạt = nghèo rớt mùng tơi.
395. Tàng tàng = bình dân, không cầu kỳ, thong thả.
396. Tào lao, tào lao mía lao, tào lao chi địa, tào lao chi thiên, chuyện tầm xàm bá láp = vớ vẩn.
397. Tạt qua = ghé qua.
398. Tàu hũ = đậu phụ.
399. Tầm ruồng = tầm bậy, trật, sai.
400. Tầm xàm bá láp = chuyện trời ơi, không thực.
401. Tần ngần = do dự (tẩn ngẩn tần ngần) - Cậu Hai đứng tần ngần trước nhà cô Ba, muốn gỏ cửa mà khổng dám.
402. Tầy quầy, tùm lum tà la = bừa bãi, không ngăn nắp.
403. Té (gốc từ miền Trung) = ngã (ngã cái ịch) -  Mắt chú tững nó xụp thần dì mới chịu ngã cái ịch xuống gối ngủ hết biết đầu đít chỗ nào.
404. Tèn ten tén ten = chọc ai khi làm một cái gì đó bị hư hỏng.
405. Teo bu-gi = Sợ gần chết (gốc Pháp Bugi?)
406. Tía, Ba = cha.
407. Tiền lính tính liền, tiền làng tàn liền! = xài hết tiền thật nhanh.
408. Tó = lấy, bắt.
409. Tò te tí te = nói chuyện không quan trọng – Coi đó! Nó xẹt qua tò te tí te với tui mấy câu rồi thì xẹt đi mất tiêu.
410. Tòng teng = đong đưa, đu đưa, chưa dứt.
411. Tổ cha, thằng chết bầm = tiếng rủa ai.
412. Tốp nhỏ = nhóm người nhỏ tuổi (thường chỉ có người lớn tuổi gọi như vậy “Tốp nhỏ tụi bây coi dẹp đồ chơi cho lẹ lo rửa tay rồi lên ăn cơm nhen”).
413. Tới = đến (người miền Nam và Sài gòn ít khi dùng chữ “đến” mà dùng chữ “tới” khi nói chuyện, “đến” thường chỉ dùng trong văn bản).
414. Tới chỉ = đúng mức, tới cuối - Hôm nay chơi tới chỉ luôn!
415. Tới đâu hay tới đó = chuyện đến rồi mới tính.
416. Tui ưa dzụ (vụ) này rồi à nhen = tui thích việc này rồi (trong đó tui = tôi).
417. Tui, qua = tôi.
418. Tụm năm tụm ba = nhiều người họp lại bàn chuyện hay chơi trò gì đó.
419. Tử tế = tốt bụng.
420. Tức cành hông = tức dữ lắm.
421. Tháng mười mưa thúi đất = tháng 10 mưa rất nhiều, cơn mưa dài.
422. Thảy = quăng.
423. Thắng = phanh.
424. Thằng cha mày, Ông nội cha mày = một cách nói yêu với người dưới (tùy theo cách lên xuống và kéo dài âm có thể ra nghĩa khác cũng có thể là một câu thóa mạ).
425. Thâm căn cố đế = người sống ở vùng nào rất lâu rồi, dân gốc.
426. Thậm thụt = ẩn hiện có ý gian.
427. Thân chủ = người khách quen thường xuyên.
428. Thầy chạy = loại người không tin cậy được.
429. Thấy ghét = nhìn ghét ghê (có thể là một câu khen tặng tùy ngữ cảnh và âm điệu của người nói).
430. Thấy gớm = thấy ghê, tởm (cách nói giọng miền Nam hơi kéo dài chữ thấy và luyến ở chữ Thấy, “Thấy mà gớm” âm mà bị câm)
431. Thấy gớm = thấy ớn, phát sợ.
432. Thèo lẽo = mách lẻo - Con nhỏ đó chuyên thèo lẻo chuyện của mầy cho Cô nghe đó!
433. Thềm ba / Hàng ba = khoảng nhà từ cửa ra mái hiên.
434. Thêm thắt = cho thêm vào.
435. Thí = bố thí, cho không, cho miễn phí, bỏ - Thôi thí cho nó đi! (Ngày xưa Sài gòn có nhà thương thí: bệnh nhân không phải trả tiền.  Thí ở đây không mang hàm ý xấu như bây giờ).
436. Thí cô hồn = mất của toi.
437. Thí dụ = ví dụ.
438. Thiếu Tá lỗ = lon Thượng Sĩ, vì cái lon Thượng Sĩ giống Thiếu Tá nhưng có cái lỗ tròn nằm ở giữa.
439. Thiệt hôn? = thật không?
440. Thiệt tình = cảm thán (thiệt tình! nói hoài mà nó hổng chịu nghe để giờ té nằm một đống).
441. Thính giả = người nghe radio, đài.
442. Thọc cù lét, chọc cù lét = chọc cười, làm cho ai đó bị nhột.
443. Thôi đi má, thôi đi mẹ! = bảo ai đừng làm điều gì đó không hay.
444. Thôi hén! = khuyên ngừng lại ở đây.
445. Thơm = dứa, khóm.
446. Thúi = hôi thối.
447. Thủng thẳng, Thủng thỉnh = từ từ.
448. Thủy cục = công ty cấp nước.
449. Thưa rĩnh thưa rãng = lưa thưa lác đác.
450. Thước = 1 mét - Đo cho tui chừng 2 thước vải tui may cái áo dài cho sấp nhỏ.
451. Thưởng lãm = xem.
452. Thưởng ngoạn = xem để giải trí.
453. Trà = Chè
454. Trả treo = lời con cái cãi lại bậc cha mẹ.
455. Trăm phần trăm = cạn chén (có thể gốc từ bài hát “Một trăm em ơi” của Vũ Chương) – Uống cạn ly 100%.
456. Trật chìa, trật đường rầy = sai giờ giấc - Hẹn cho đã rồi không ra làm trật chìa hết trơn hết trọi
457. Trẹo bản họng, lẹo lưỡi = phát âm một cách khó khan - Nói muốn trẹo bản họng.
458. Trển = ở phía trên ấy - Lên trên Saigon mua đi, ở trển có bán đồ nhiều lắm.
459. Trọ trẹ = giọng nói vùng/địa phương nghe không rõ ràng.
460. Tròm trèm = cũng cỡ, gần tới - Tròm trèm 70 tuổi rồi.
461. Trời long đất lở = chuyện to tát, tầy trời.
462. Trời ui ui = trời hơi tối tối.
463. Trụi lũi = nhẵn thín - Râu cạo trụi lũi.
464. Trừ phi = ngoại trừ ra.
465. Trực thăng = máy bay lên thẳng (Bắc).
466. Tụi mình = chúng mình.
467. Uể oải = mệt mỏi, lừ đừ.
468. Um xùm = ồn áo.
469. Ứa gan = chướng mắt, không vừa lòng.
470. Ưng = đồng ý, thích, chịu  - Ưng ý.
471. Ướt chèm nhẹp = ướt lắm.
472. Ướt như chuột lội (miền Nam hay nói sai thành “ướt như chuột lột”) = ướt lắm.
473. Ván ngựa = cái sập bằng cây (còn gọi là đi-văng) có mấy tấm gỗ dày đặt lên 2 cặp chân, còn gọi là bộ ngựa?
474. Vầy = như vậy - Làm vầy nè  (làm như vậy nè).
475. Vè xe = miếng chắn bùn xe.
476. Vỏ xe = lốp.
477. Xa lắc xa lơ = xa thiệt là xa, vời vợi.
478. Xả láng sáng về sớm = cứ thoải mái làm /chơi cho tận cùng, không phải lo gì hết.
479. Xà ích (Sãis) = có nghĩa là Thằng đánh xe, (1930 – không sử dụng nữa từ khi có xe hơi)
480. Xà lỏn, quần cụt = quần đùi
481. Xà quần (gốc Khmer) = loanh quanh.
482. Xài = dùng, sử dụng.
483. Xảnh xẹ, Xí xọn = làm điệu quá lố.
484. Xe Cá = giống xe thổ mộ nhưng không có mui, dùng để chở hàng, không chở người.
485. Xe ba gác = xe ba bánh dùng để chở đồ (xe ba gác máy, như xe ba gác nhưng gắn thêm máy chứ không đạp).
486. Xe cam nhông (gốc Pháp Camion?).= xe vận tải
487. Xe đò = xe chở khách, tương tự như xe buýt nhưng tuyến xe chạy xa hơn ngoài phạm vi thành phố - Xe đò lục tỉnh.
488. Xe Honda = xe hai bánh có gắn máy (có một thời gian người miền Nam quen gọi đi xe Honda tức là đi xe gắn máy) – Ê! mầy tính đi xe Honda hay đi xe đạp dzậy?
489. Xe hơi = Ô tô (Bắc, gốc Pháp Auto).
490. Xe nhà binh = xe quân đội
491. Xe ôm = xe chở thuê hai bánh.
492. Xe thổ mộ = xe ngưa.
493. Xẹp lép = xẹp, phẳng, trống rỗng - Bụng xẹp lép (đói bụng chưa có ăn gì hết).
494. Xẹt qua = ghé ngang qua nơi nào một chút không có chủ ý - Tao xẹt qua nhà thằng Tám cái đã nghen (có thể gốc từ sét đánh chớp xẹt xẹt nhanh).
495. Xẹt ra / Xẹt vô = đi ra đi vào rất nhanh.
496. Xí = hổng dám đâu/nguýt dài (cảm thán khi bị chọc ghẹo).
497. Xi-cà-que = chân đi cà nhắc vì có vấn đề.
498. Xi nhan (gốc Pháp Signal) = ra hiệu.
499. Xì-tin= style (gốc Anh ngữ).
500. Xí xa xí xầm, xì xà xì xầm, xì xầm= nói nhỏ.
501. Xí xọn = kiểu con gái mới lớn.
502. Xí cái bùm bum = chuyện không tốt để phải chú ý.
503. Xía = chen vô - Xí! Cứ xía dô chiện tui hoài nghen!
504. Xỉa răng = tiền thu vào không đủ chi phí (lóng) - Làm muốn chỏng mông mà hổng đủ xỉa răng nữa.
505. Xĩa xói = châm chọc.
506. Xiết = không nổi – Làm hết xiết (làm không nổi).  Nhưng ở một số vùng miền Tây nam bộ (Cà Mau) cũng có nghĩa là Nhanh.  Ví dụ: Chẩy xiết, Làm xiết xiết (làm nhanh nhanh), Chạy xiết đi (hạy nhanh đi).
507. Xiên lá cành xiên qua cành lá = câu châm chọc mang ý nghĩa ai đó đang xỏ xiên mình?  (gốc từ bài hát “Tình anh lính chiến” của Lam Phương - Xuyên lá cành trăng lên lều vải).
508. Xỏ lá ba que = chuyện lừa đảo - Đùng có xỏ lá ba que nhe mậy.
509. Xỏ xiên = đâm thọt, đâm bị thóc chọc bị gạo - Ăn nói xỏ xiên.
510. Xú chiên = áo lót nữ (gốc tiếng Pháp).
511. Xì líp = quần lót (gốc tiếng Pháp).
512. Xụi lơ = hết sức lực rồi.
513. Xưa như trái đất, hồi nẩm, cái thời ông Cố ông Sơ ông Sờ ông Sẩm = chuyện cũ, xưa thiệt là xưa.
514. Xưa rồi Diễm = chuyện đó ai cũng biết hết rồi (gốc từ tựa bài hát “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn).
515. Y chang, Y đúc, Y khuông, Y bong = giống hệt như nhau. 

 

 

Nguồn: https://fudozon.com/tin-tuc/gom-gop-tu-ngu-cua-mien-nam-va-saigon-xua--3802.html 

 

 

Nguyễn Cao Trường 

 

 

Trần Văn Giang (ghi lại)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn