Đồi 30 Hạ Lào

Chủ Nhật, 02 Tháng Mười Hai 20188:26 CH(Xem: 744)
Đồi 30 Hạ Lào

Những trang viết tay của Đại úy Hy vô cùng sống động. Người đọc nhìn thấy các căn cứ Ranger North, Ranger South của Biệt Động Quân lần lượt thất thủ, rồi đến phiên Đồi 31 bị tràn ngập khiến Đại úy Nguyễn Văn Đương phải tự sát. Tiếp đến là những tấn công biển người với thiết giáp PT76 của Bắc quân mà Đại úy Hy đã phải dùng đại bác 155 ly bắn trực xạ để ngăn chận; xen kẽ các pha cận chiến của Nhảy dù.

Tập hồi ký cho người đọc nhìn thấy thêm sự vận hành bên trong của một đơn vị pháo binh VNCH. Cách tổ chức, thiết lập vị trí, cách gọi pháo, check fire và phối hợp giữa nhiều pháo đội cùng một lúc, song song với không yểm Hoa Kỳ. Đặc biệt Đại úy Hy đã không tránh né mà ghi lại sự kiện đã từng bị thổi phồng: vài binh sĩ ôm càng trực thăng rời khỏi Đồi 30 và việc Trung tá Trần Kim Thạch, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Nhảy dù, bỏ đơn vị về Khe Sanh. Tính trung thực không bao gộp duy nhất những điều tồi tệ. Đã có những tấm gương can trường: như Thiếu tá Lê Văn Mạnh, Tiểu đoàn phó, chống trả cho đến phút cuối cùng rồi cùng binh sĩ mở đường máu về được Lao Bảo bằng đường bộ. Chính bản thân Đại úy Hy cũng đã đứng thẳng trên bãi đáp trực thăng, đang hỗn loạn, để giữ đội hình và quyết định tháo vải ngụy trang để lộ ba mai vàng giúp phi công nhìn thấy có sĩ quan chỉ huy bên dưới mà đáp xuống. Chỉ là một chi tiết nhỏ, nhưng nói lên phẩm cách của Đại úy Hy. Một giáo chức bị động viên.

Ít tập hồi ký nào sôi động với những khắc khoải lo âu từng giờ như Đồi 30 Hạ Lào. Tôi đọc hồi ký này năm 1973 khi vừa lên trung học mà nhớ mãi những bực tức cùng lo lắng của Đại úy Hy, cả những phản công bằng phóng lựu M79 của binh sĩ quốc gia đẩy bật Cộng quân xuống rào kẽm gai và Đại úy Nguyễn Văn Đương là người bạn thiết mà Đại úy Hy nhắc đến những phút cuối cùng. Khi ấy, phim kịch Người Chết Trở Về của Nhật Trường với ca khúc Anh Không Chết Đâu Em đang phát hằng ngày trên Radio và Tivi. Tôi cố gắng tìm chân dung Đại úy Hy trên Net, nhưng không một tấm hình nào hay văn bản nào cho biết ông còn sống hay mất. Xin phép Đại úy Hy cho đánh máy lại, vì giá trị lịch sử của hồi ký và cũng vì sách đã tuyệt bản, không còn tìm thấy ở các nhà sách, cũng không thấy trên mạng.

“Tôi Tham Chiến Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 Tại Hạ Lào” nhận Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Phủ Tổng Thống VNCH năm 1972, các chương sẽ được tuần tự đánh máy lại trên tuần san Trẻ từ tuần này.

[Trần Vũ]

https://i0.wp.com/baotreonline.com/wp-content/uploads/2018/10/doi-30-ha-lao2.jpg

Trương Duy Hy

Kỳ 1

Thay lời tựa

Đà-Nẵng, ngày 10 tháng 06 năm 1971

Thân gởi,

Đại Úy Trương Duy Hy, Pháo đội trưởng Pháo đội C/44 PB, tham dự cuộc hành quân Lam-Sơn 719 tại căn cứ hỏa lực 30, Hạ Lào.

Anh Hy thân mến,

Tôi vừa nhận được bản thảo Hồi Ký Chiến Tranh của Anh, nhan đề “Tôi Tham Chiến Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 tại Hạ Lào”. Anh có nhờ tôi đề tựa. Đáng lẽ Anh phải nhờ một nhà văn nổi tiếng hay một sĩ quan cao cấp làm việc đó, nhưng Anh đã nghĩ đến tôi, chắc vì mối tình tri-ngộ giữa chúng ta kể từ hơn 20 năm nay. Do đó tôi viết bức thư không niêm này, thay vì đề tựa chính thức để giãi bày cùng anh những cảm nghĩ của riêng tôi sau khi đọc tác phẩm này. Năm, tháng trôi qua thật nhanh, bao nhiêu biến cố dồn dập đến trên dải đất thân yêu của chúng ta, kể từ một phần tư thế kỷ này đã đảo lộn nhiều chế-độ chánh trị, xáo trộn cả bộ mặt xã-hội và nếp sống hàng ngày, cơ hồ có lúc làm đảo lộn tất cả những tình cảm tốt đẹp nhất trong lòng người giữa cơn lốc vật chất quay cuồng dữ dội. Nhưng kỳ diệu thay, mối dây giao hảo giữa chúng ta vẫn không hề bị gián đoạn vì thời cuộc nghiêng ngửa, cũng không hề bị hoen ố vì ảnh hưởng của cuộc nhân-sinh. Giữa Anh và tôi vẫn còn trọn vẹn tình thầy trò thiêng liêng, tình anh em thắm thiết, tình bằng hữu đậm đà. Tôi biết Anh, từ khi Anh hãy còn là một cậu bé 15 tuổi, sớm mồ côi cha, nhưng nhờ ý chí cương quyết, nghị lực vững vàng, anh đã can đảm vượt qua hết mọi trở ngại lớn lao, để tiếp tục việc học đến ngày thành công. Anh đã thi đậu vào lớp Đệ-Thất trường Trung học Phan-Châu-Trinh Đà-Nẵng, năm 1952. Tôi còn nhớ rõ hình ảnh một cậu học sinh  nhỏ bé, ngơ ngác giữa đám bạn bè tinh nghịch. Nhưng Anh đã làm chúng bạn cảm phục ngay vì học lực và tính tình của Anh. Việc học nửa chừng bị gián đoạn vì Anh phải tham dự cuộc Hành quân Atlante vào khoảng 1-1954. Chiến tranh chấm dứt, Anh phải học băng vào lớp Đệ Ngũ, thế mà tháng nào Anh cũng đứng đầu lớp, năm nào Anh cũng nhận phần thưởng danh dự, suốt trong mấy năm Trung học Đệ I và Đệ II cấp, cuối cùng Anh thi đậu Tú Tài Toàn Phần. Hồi đó, các giáo sư ai cũng đều ngợi khen Anh. Nếu Anh được cái may mắn sinh trưởng trong một gia đình giàu có thì chắc sự học còn tiến xa hơn nữa. Trong khoảng từ năm 1958 đến năm 1962, Anh phải đi dạy các trường Trung-Học Công Tư ở Quảng Nam để giúp đỡ gia đình, rồi sau đó phải nhập ngũ. Trong thời gian này, thỉnh thoảng tôi mới gặp Anh, nhưng tôi có nghe đồng bào quận Đại Lộc rất ca tụng Anh trong vụ cứu trợ nạn lụt mùa Đông 1970. Con người Anh thật là tiêu biểu cho dân Quảng Nam: trực tính, ưa tranh luận (Quảng Nam hay cãi…) thích chỉ huy, rất hăng say trong mọi công tác và sẵn sàng phẫn nộ trước cảnh bất công. Xứ Ngũ Phụng Tề Phi với núi sông hùng vĩ, kỳ tú là một vùng đất tượng trưng cho tinh thần quật khởi của một người dân xứ Quảng. Sở dĩ tôi phải nhận xét về con người Anh dông dài – chẳng biết có phạm đến lòng khiêm tốn của Anh không? – thật không phải là để ca tụng Anh đâu, mà chính là để tìm hiểu những cảm nghĩ và hành động của Anh trong những ngày Anh hành quân tại mặt trận Hạ Lào. Bản chất của Anh đã được phô bày khá đầy đủ trong tác phẩm này. Ở đây, tôi không muốn làm công việc phê bình, cũng không dám lạm bàn đến chiến lược, chiến thuật vì điều đó vượt khả năng và sự hiểu biết của tôi. Tôi chỉ muốn trình bày sau đây một vài khía cạnh mang ít nhiều tính chất chính trị và xã hội trong tác phẩm này:

– Anh đừng e ngại Cái Tôi đáng ghét. Cái Tôi trong tập hồi ký này chỉ là Cái Tôi điển hình cho tất cả những chiến sĩ dũng cảm tại Hạ Lào. Cái Tôi của Lân, của Thiện, của những chiến sĩ pháo binh, của Tiểu Đoàn Dù, của Biệt Động Quân… đã chạm mặt Tử-Thần tại mặt trận Hạ Lào nhưng không hề run sợ.

– Trước sự đe dọa của Tử Thần, tình đồng đội thật là thắm thiết hơn bao giờ hết. Bao nhiêu hiềm khích nhỏ nhen trong cuộc sống bình thản thường nhật đã bị tiêu tan trong chiến trận. Trước mặt, chỉ còn có địch quân cần phải tiêu diệt để bảo vệ sự sống của chính mình và của đồng đội.

4307953270_da9452b0e9_z

– Lòng nhân đạo đã được thể hiện, khi chiến trận chấm dứt, trông thấy xác chết ngổn ngang, các thương binh, dù là địch quân, rên xiết trong nỗi đau đớn, khổ sở đều cần được chăm sóc, được an ủi như nhau. Vì nghĩa vụ, con người phải chém giết nhau, thì cũng vì nghĩa vụ, con người phải cứu giúp nhau để xoa dịu những nỗi khổ trong kiếp sống bi thảm này. Anh đã áp dụng đúng đắn lời dạy của triết gia Bersot, mà ngày xưa tôi đã bắt anh dịch ra Việt-văn. Thật ra, những người lính Cộng-Sản Bắc-Việt chỉ là những con tốt thí cho một chủ nghĩa, một mưu đồ. Họ phải chịu chết, chịu khổ sở từ 25 năm nay để phục vụ cho quyền lợi của tầng lớp cán bộ lãnh đạo ở Bắc-Việt, mà họ cứ vẫn tưởng là phục-vụ cho dân-tộc Việt-Nam.

– Đối với quảng đại quần chúng, ai cũng nghe nói đến chiến trận Hạ Lào vô cùng ác liệt, hơn cả những trận Pleime, Benhet, Dakto… hơn cả trận Điện-Biên-Phủ năm xưa. Nhưng không mấy ai ở ngoài cuộc có thể hình dung nổi trận chiến ác liệt như thế nào, nỗi gian-khổ của binh sĩ ta lớn lao đến chừng nào. Tác phẩm này đã vẽ ra một phần không nhỏ cả khung cảnh dữ dội, kinh hoàng của chiến tranh, nhờ đó quần chúng mới hiểu thấu hết tinh thần chiến đấu can trường, sức chịu đựng gian khổ của binh sĩ ta tại Hạ Lào, để biết cảm phục và thương yêu binh sĩ nhiều hơn.

– Tôi không đặt vấn đề thắng hay bại của cuộc hành quân Lam Sơn 719, nhưng quả thật nhờ có cuộc hành quân này mà sự tiếp liệu khổng lồ của Bắc-Việt vào Kampuchia và Nam Việt-Nam đã bị ngưng trệ trong một thời gian, các kho tàng trữ vũ khí, thực phẩm, thuốc men, vật liệu của địch quân đã bị hủy diệt một phần lớn, điều này không một ai có thể chối cãi được, và sự hy sinh của binh sĩ ta thật không phải là vô ích. Về mặt chính trị, nhờ có cuộc hành quân này mà cả thế giới đều thấy rõ Bắc Việt đã xâm lăng không chính thức Miền Nam Việt-Nam, bằng đường mòn Hồ-Chí-Minh, một điều mà Bắc-Việt luôn luôn cải chính, đó là một thắng lợi về chính trị thật rõ ràng.

– Tác phẩm này còn được xem như một lằn roi quất mạnh vào mặt những hạng chính khách salon, bơ sữa, những hạng người thối nát trong guồng máy Quốc-gia, những hạng tham nhũng, đầu cơ trục lợi, những dân biểu buôn lậu phản nước, hại dân, những tên tài phiệt đã nhờ chiến tranh mà làm giàu trên xương máu của binh sĩ và đám cùng dân khố rách áo ôm. Các anh em binh sĩ có hô hào phải hy sinh, phải làm cách mạng, phải yêu nước bao giờ đâu? Binh sĩ chỉ biết chiến đấu trong im lặng và chết trong im lặng, không một lời than thở, tiếc nuối. Các binh sĩ chiến đấu tại Hạ Lào là những thiên thần sẽ giẫm nát lũ sâu bọ lên làm người đầy rẫy nơi đây.

– Tác phẩm còn được xem như một liều thuốc hồi sinh đối với bọn thanh niên sống cuộc đời vô lý tưởng, luôn luôn sợ gian khổ, sợ chiến đấu, cố tìm quên lãng và xóa bỏ thực tại bằng một nếp sống sa đọa, trụy lạc. Cố nhiên là nếu họ chịu uống liều thuốc đắng mà bổ ích này.

Anh đã làm tròn nhiệm vụ đối với Tổ-Quốc. Đó là niềm hãnh diện nhất trong đời.

Thân ái chào Anh,

Trần-Ngọc-Quế.

doi-30-ha-lao1

o O o

Xác định một tọa độ

“CÁI TÔI” bao giờ cũng là “CÁI ĐÁNG GHÉT”. Từ xưa đến nay, vì nghĩ đến “CÁI TÔI”, nói đến “CÁI TÔI” mà có nhiều người mang họa – nếu không, cũng là đầu đề cho bạn bè đem ra chế giễu.

Lại nữa, “CÁI TÔI” lúc nào cũng chủ quan. Đã chủ quan thì khó trung thực. BÙI GIÁNG hơn một lần nhận xét “…mắt ta thấy, chưa chắc đã là không lầm, tai ta nghe chưa chắc đã là không lộn…!”. Nhưng khổ nỗi, ở một vài trường hợp “CÁI TÔI” vì điều kiện và ngoại cảnh nào đó an bài cho nó có “MỘT TỌA ĐỘ” – Từ “TỌA ĐỘ” này, nó có một thị trường thích nghi, tuy không nói lên những nhận xét trung thực bởi “chủ quan tính” gắn liền với nó – nhưng ít ra, nó có thể nói lên những gì nó thấy tận mắt, nghe tận tai, ngửi tận mũi.

Vả lại, “CÁI TÔI” trong Hồi ký này còn là điểm tựa, bằng vào đó để có thể trung thực trình bày các điều đã thấy, nghe và ngửi – hẳn độc giả sẽ không hẹp hòi gì mà không tha thứ.

Với ý thức khơi nguồn bởi lòng độ lượng của độc giả “CÁI TÔI” trong Hồi ký tự nhận có bổn phận chân thành thể hiện cảm quan đã thâu thập trong suốt 23 ngày đối diện với Tử-thần ở Hạ Lào. Ngoài ra, CĂN CỨ HỎA LỰC 30, tiền đồn cuối cùng ở phía Bắc Quốc lộ 6, nằm sâu trong nội địa Lào Quốc -kể từ sau ngày 25-2-1971- không phải chỉ có vài người trách nhiệm tử thủ, thì đương nhiên những gì “CÁI TÔI” đã ghi chép tại đây, chắc chắn không thể lọt ra ngoài những cặp mắt phán xét nghiêm khắc của hàng trăm chứng nhân – nếu không là sự thật 100%.

4307212579_2ccaec7120_z

Hơn thế nữa, tôi nghĩ – bây giờ tôi bắt đầu xin dùng chữ “TÔI” – đã là Hồi ký chiến tranh, kẻ cầm bút nếu không trung thực với chính mình, lại cố ý ru cho mọi người chung quanh vào “MÊ HỒN TRẬN NGỤY TẠO”, thiết tưởng đáng hổ thẹn biết bao!

Vì lẽ đó, hôm nay “CÁI TÔI” của tôi chỉ có mỗi một ước vọng, và tất cả cố gắng dồn vào ước vọng này: thật rõ những gì đã xảy ra mà chính mình chứng kiến, chính mình am hiểu từ lúc nhận lệnh tham chiến đến ngày Đại lễ “KHAO QUÂN MỪNG CHIẾN THẮNG LAM SƠN 719” cử hành trọng thể tại cố đô Huế dưới sự chủ tọa của Tổng Thống VNCH NGUYỄN-VĂN-THIỆU.

Phần nhận xét liên hệ đến chiến thuật, chiến lược, tôi xin được miễn phổ cập.

Khe-Sanh, ngày 16 tháng 3 năm 1971.

(còn tiếp)

Kỳ sau

Nhận lệnh lên đường

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.

Nguồn: http://baotreonline.com/doi-30-ha-lao/

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn