Trong một cuộc họp nội các được phát trực tiếp trên truyền hình hôm thứ Năm 29/01/2026, tổng thống Mỹ Donald Trump phấn khởi tuyên bố : « Không một quốc gia nào khác trong lịch sử có thể tự hào đạt được một con số như thế : 18 ngàn tỷ đô la đang được đầu tư. Hàng nghìn doanh nghiệp, nhà xưởng và thiết bị đang được xây dựng trên khắp cả nước. Và các cơ sở này sẽ sớm mở cửa ». Tuy nhiên, theo báo Les Echos, khi xem xét kỹ các thỏa thuận được công bố cho đến nay, đó lại là một câu chuyện khác.
Quảng cáo
Trước hết, nhật báo kinh tế Pháp Les Echos, nhận xét, 18.000 tỷ đô la là một số tiền khổng lồ, tương đương với tổng sản phẩm nội địa của 27 nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu gộp lại. Khoản tiền đầu tư nước ngoài này, theo ông Trump, là nhằm khôi phục nền công nghiệp nước Mỹ và mở ra một « thời kỳ huy hoàng » mới cho kinh tế đất nước.
Trên mạng xã hội X, Jessica Riedl, chuyên gia về tài chính công tại Viện Brookings lưu ý, « chỉ có những ai không hiểu biết gì kinh tế mới có thể tin vào điều này ». Bởi vì, việc đột ngột đổ hàng nghìn tỷ đô la vào nền kinh tế có thể sẽ có những tác động to lớn : « Điều này có lẽ sẽ đẩy tăng trưởng lên đến 60% và đòi hỏi tạo ra khoảng 100 triệu việc làm, trong khi ở Mỹ chỉ có 7,5 triệu người thất nghiệp ».
Một công cụ theo dõi trên trang mạng của Viện Brookings đưa ra con số 9.600 tỷ đô la, bao gồm các « thỏa thuận thương mại » được đàm phán với các chính phủ nước ngoài cùng các dự án của nhiều hãng khác nhau, bất kể là nước ngoài hay trong nước, những bên đã quảng cáo về những khoản đầu tư của họ tại Mỹ kể từ khi Donald Trump trở lại cầm quyền. Con số này cũng bao gồm những cuộc đặt cược lớn từ các hãng công nghệ lớn vào nhiều trung tâm dữ liệu, mặc dù cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo IA không liên quan nhiều đến chủ nhân Nhà Trắng hiện nay.
Những lời hứa hão ?
Vậy thực hư ra sao ? Les Echos dẫn kết quả một nghiên cứu do hai chuyên gia thuộc Viện Kinh tế Quốc tế Peterson thực hiện. Bằng cách dựa vào các « tóm tắt thông tin » được Nhà Trắng hay chính quyền Trump công bố, hai nhà nghiên cứu nhận thấy, tổng giá trị các thỏa thuận được đàm phán giữa Mỹ và các đối tác thương mại tính từ « Ngày Giải Phóng – 02/04/2025 » chỉ nhỉnh hơn 5.000 tỷ đô la. Tất nhiên, con số này là cũng không nhỏ, tương đương với khoảng 18% GDP của Hoa Kỳ.
Chuyên gia Gregory Auclair, Viện Peterson, giải thích : « Những con số đưa ra phần lớn đã được phóng đại. Mà ngay cả khi chúng không được phóng đại, người ta cũng phải mất nhiều năm mới thấy được tác động thực sự của chúng ». Một trong số các vấn đề nằm ở bản chất đặc thù của từng thỏa thuận, được đàm phán bí mật và dưới sự ép buộc. Trong một số trường hợp, lịch trình được đề cập, với thời hạn bốn năm như với châu Âu, hay như mười năm đối với Hàn Quốc, nhưng nhiều trường hợp khác thì không như vậy, chẳng hạn như Qatar.
Còn theo quan sát của Adnan Mazarei, đồng tác giả nghiên cứu của Viện Peterson, « nhiều thỏa thuận trong số này có thời hạn vượt quá nhiệm kỳ của chính quyền hiện tại. Vì vậy, trong nhiều năm nữa, nếu Hoa Kỳ có một chính phủ với một bản sắc chính trị khác, họ có thể sẽ không còn chú trọng nhiều đến điểm này nữa ». Dường như không có thỏa thuận nào trong số này có kế hoạch để Quốc Hội phê chuẩn, cơ quan duy nhất có thẩm quyền thông qua các hiệp ước quốc tế tại Mỹ, và do vậy, điều này về cơ bản hạn chế ý nghĩa và thời hạn của các thỏa thuận.
Ngoài ra, nguy cơ Tòa án Tối cao ra phán quyết bất lợi về chính sách thuế quan « đối ứng » cũng có thể phá vỡ toàn bộ cơ chế thuế quan do Nhà Trắng lập ra, và tước mất đòn bẩy quan trọng của chính quyền Donald Trump. Tuy nhiên, theo kinh tế gia Adnan Mazarei, « nhiều nước trong số này phụ thuộc rất nhiều vào sự bảo đảm an ninh từ Mỹ đến mức họ rất có thể quyết định thực hiện ít nhất một số khoản đầu tư ».
Câu hỏi đặt ra ở đây liệu những nước đó có phương tiện để thực hiện hay không ? Các nước vùng Vịnh tuyên bố « ầm ĩ » để gây ấn tượng với Donald Trump. Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Qatar đứng đầu bảng với những hứa hẹn đầu tư lần lượt ở mức 1.400 và 1.200 tỷ đô la, cao hơn cả GDP hàng năm của hai nước.
Ngay cả con số 600 tỷ đô la mà Ả Rập Xê Út cam kết khó thể đạt được nếu như giá dầu thế giới không tăng, trừ phi nước này sử dụng đến nguồn tài sản dự trữ khổng lồ được tích lũy bởi các quỹ đầu tư quốc gia. Điều này có nguy cơ làm gia tăng sự phụ thuộc của vương quốc vào tài sản của Mỹ, và đòi hỏi giảm bớt các danh mục đầu tư trong nước, vốn dĩ là một ưu tiên trong chiến lược đa dạng hóa khỏi nguồn dầu hỏa của đất nước.
Như tóm tắt của Adnan Mazarei : « Những nước này luôn hiểu rằng họ cần duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Mỹ. Vấn đề đặt ra hiện nay liệu việc tăng quy mô các cam kết đầu tư đó là có thực hay không, hay đơn giản chỉ cần thông báo những con số này để giảm áp lực ? »
Chiến lược công nghiệp phải do các nước đồng minh tài trợ
Hiện tại, các nhà nghiên cứu đã xác định được tổng cộng khoảng 60 dự án, ở các giai đoạn phát triển khác nhau, với tổng trị giá là 1.409 tỷ đô la. Phần lớn trong số này đều có liên quan đến các thỏa thuận đúc kết được với Nhật Bản và Hàn Quốc, hai nước duy nhất đã ký « biên bản ghi nhớ », quy định cách thức thực hiện các khoản đầu tư. Nhật Bản thậm chí còn công bố một danh sách các dự án đáp ứng đầy đủ các điều kiện, từ lĩnh vực quốc phòng, năng lượng đến cả đóng tàu.
Nhà nghiên cứu Gregory Auclair nhấn mạnh : « Theo truyền thống, chính phủ Mỹ áp dụng một cách tiếp cận thụ động và tự do, theo kiểu "tùy ý" (laisser – faire) trên phương diện đầu tư nước ngoài. Đây là lần đầu tiên Mỹ thực sự can thiệp và tìm cách định hướng các khoản đầu tư vào một số lĩnh vực với vai trò năng động trong việc lựa chọn các dự án ».
Nhìn từ góc độ này, các « thỏa thuận » của Donald Trump dường như nằm trong sự xoay chuyển rộng lớn theo hướng « Nước Mỹ trên hết ! ». Chuyên gia kinh tế Auclair ghi nhận : « Có rất nhiều sự trùng lặp trong số các dự án được lựa chọn và đánh giá chiến lược an ninh quốc gia được công bố hồi tháng 12/2025. »
Chính quyền Trump xem những dự án đó như là một phương cách để tài trợ cho chính sách công nghiệp với những mục tiêu tương tự như chính sách dưới thời Joe Biden nhưng với những công cụ rất khác biệt. Về điểm này, ông Gregory Auclair có nhận xét : « Thay vì sử dụng trợ cấp và ưu đãi thuế, một số chi phí được chuyển sang cho đồng minh, theo cách gây xung khắc hơn là hợp tác ».
Cuối cùng cả hai tác giả kết luận : « Mặc dù được trình bày là cùng có lợi, nhưng các thỏa thuận này thực chất phản ảnh những mối quan hệ bất cân xứng và chiến thuật cưỡng ép. Cách tiếp cận toàn diện này phù hợp với luận điểm của tổng thống Trump, theo đó, Hoa Kỳ đã bị suy yếu trong lĩnh vực sản xuất vì bị các đối tác thương mại đối xử tệ bạc. Giờ đã đến lúc họ phải trả giá ! »














