Lê Nguyễn Duy Hậu
7-8-2025
Lời giới thiệu của tác giả: Kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám, mình mạo muội đăng một loạt bài tổng hợp của mình về sự kiện này tại Sài Gòn cách đây 80 năm. Ngày nay, ngày kỷ niệm Cách mạng tháng Tám đã được chọn là 19/08 hàng năm, trùng với ngày giành được chính quyền tại Hà Nội.
Tuy vậy, mình thấy rằng quy một sự kiện kéo dài hơn một tuần lễ trên khắp cả nước vào đúng một ngày như vậy là một sự đơn giản hóa lịch sử. Ba trung tâm chính trị chính của Việt Nam thời bấy giờ là Hà Nội, Sài Gòn, Huế đều có những cách làm cách mạng rất khác nhau và diễn ra tại những thời điểm khác nhau, với những đặc thù khác nhau. Loạt bài này, vì vậy, chỉ mong muốn kể lại câu chuyện ở Sài Gòn cách đây 80 năm. Những sử liệu này không có gì mới, chắc hẳn bạn đã nghe đâu đó. Mình chỉ xin phép tổng hợp lại một chỗ cho mọi người dễ đọc.
Kỳ 1: Sài Gòn – từ Nam kỳ Khởi nghĩa đến hai xứ ủy
Ngày 02/09/1945, trong khi tại Hà Nội, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập, thì ở Sài Gòn, một sự việc kỳ lạ đã xảy ra. Lịch sử chính thống viết lại rằng Lâm ủy Hành chánh Nam bộ được thành lập sau khởi nghĩa tháng Tám tại Sài Gòn đã dựng nên một lễ đài cho người dân Sài Gòn tụ tập lắng nghe bản tuyên ngôn độc lập phát sóng từ Hà Nội. Tuy nhiên, lịch sử chính thống cũng kể rằng, do đường truyền radio gặp trục trặc, nên tiếng nói từ Hà Nội đã không được người dân Sài Gòn nghe thấy. Ứng biến với tình huống đó, chủ tịch Lâm ủy Hành chánh Nam bộ là ông Trần Văn Giàu, một người Marxist trẻ tuổi đã lãnh đạo thành công khởi nghĩa tháng Tám ở Sài Gòn, quyết định nhảy lên lễ đài có sẵn và đọc một bản văn thay thế cho bà con nghe. Bài diễn văn mà ông Giàu cho là mình ứng tác đó về cơ bản vẫn tôn vinh chánh phủ lâm thời đang hiện diện ở miền Bắc của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng lồng vào đó là một lời kêu gọi người dân Nam bộ nói chung và Sài Gòn nói riêng sẵn sàng chiến đấu với thế lực thực dân Pháp đang sắp sửa quay lại Đông Dương. Nguyên văn bài diễn văn đó về sau được đăng lại trên một tờ báo ở Nam Bộ và vẫn còn được lưu giữ trong Bảo tàng Cách mạng TPHCM.

Đúng với dự đoán của ông Giàu, người Pháp quay lại sau đó không lâu, theo chân đoàn quân của người Anh vào giải giáp quân Nhật. Ba tuần sau lễ độc lập, Nam Bộ quyết định nổ súng kháng chiến sau một cuộc họp gay gắt mà ở đó, theo lời ông Giàu, đại diện tổng bộ Việt Minh từ miền Bắc vào là Hoàng Quốc Việt phản đối kịch liệt việc nổ súng kháng chiến. Ngày nay, sự kiện nổ súng vào 23/09/1945 được gọi là Nam Bộ Kháng Chiến. Ông Việt, và sau đó là chủ tịch Hồ Chí Minh, về sau cũng gửi những tuyên cáo và thư từ cổ vũ tinh thần chiến đấu của người dân Nam Bộ. Một tháng sau Nam Bộ Kháng Chiến, ông Giàu và hai đồng chí khác của ông là Dương Bạch Mai và Phạm Ngọc Thạch được lệnh điều ra Trung ương nhận công tác mới, để lại chiến cuộc Nam Bộ cho một bộ phận lãnh đạo khác vừa từ Côn Đảo về. Ông Giàu sau đó gần như không còn có dịp quay lại Sài Gòn cho đến khi thống nhất đất nước, và vai trò của ông trong lịch sử kháng chiến Việt Nam dần mờ nhạt đi. Cuối đời, ông được biết nhiều hơn với danh xưng Giáo sư Trần Văn Giàu, chứ không còn là nhà cách mạng Trần Văn Giàu, nhạc trưởng của khởi nghĩa tháng Tám tại Sài Gòn.
Câu chuyện của ông Giàu là một lát cắt nhỏ trong sự thú vị của cách mạng Nam kỳ trong năm 1945. Ngày nay, khi được dạy về Cách mạng tháng Tám, học sinh cả nước thường tập trung vào ngày 19/08/1945, được cho là khi các lực lượng Việt Minh giành được chính quyền ở Hà Nội (chính sử gọi là Tổng khởi nghĩa). Các cuộc khởi nghĩa khác ở Huế (23/08) và Sài Gòn (25/08) được hiểu như hưởng ứng thành công ở Hà Nội, và được Đảng Cộng Sản Đông Dương ở Pác Bó chỉ đạo thông qua Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và Quân lệnh số 1. Trong bối cảnh đó, khởi nghĩa ở Sài Gòn diễn ra vào ngày 25/08 thường bị “chê” là tương đối chậm. Tuy nhiên, nếu đọc lại những hồi ức của các lão thành đã tham gia khởi nghĩa tại các địa phương, và những nghiên cứu về Cách mạng tháng Tám thì có thể thấy đây là một chuỗi những sự kiện diễn ra trên khắp cả nước, nhưng không nhất thiết có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, và thậm chí không nhất thiết có tính hệ thống, thông suốt như thể được lãnh đạo bởi một cơ quan đầu não. Đặc biệt, cách mà ba địa phương Hà Nội – Huế – Sài Gòn khởi nghĩa cũng phản ánh ba phương pháp giành chính quyền khác nhau. Ở Hà Nội, đó là một cuộc cách mạng đường phố đúng nghĩa khi một buổi mít tinh do chính quyền Trần Trọng Kim tổ chức bị biến thành một cuộc biểu dương lực lượng của Việt Minh, dẫn đến giành chính quyền. Tại Huế, sự vận động Bảo Đại thoái vị của những cựu thần và những nhân vật uy tín trong triều đình Huế như Phan Khắc Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Tôn Quang Phiệt đã chuẩn bị sẵn sàng cho đại diện Việt Minh do Tố Hữu lãnh đạo vào tiếp nhận chính quyền. Cuộc khởi nghĩa ở Huế, vì vậy, mang màu sắc của một chính biến cung đình. Trong khi ở Sài Gòn, và chúng ta sẽ nghe câu chuyện này kĩ hơn, đó là vận động của Thanh niên Tiền phong – lực lượng vũ trang trên thực tế của chính quyền Trần Trọng Kim – kết hợp với nổi dậy của quần chúng đã giúp Việt Minh giành chính quyền. Cuộc khởi nghĩa của Sài Gòn, vì vậy, gần với một cuộc đảo chính quân sự không đổ máu. Tất nhiên, đây là nhận định của bản thân mình dựa trên các quan sát, đánh giá đối với sử liệu, và vì vậy nó không thể tránh khỏi sự thiên kiến. Mong nhận được trao đổi của mọi người.
Nhân dịp kỉ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và ngày độc lập của Việt Nam, mình viết lại những nghiên cứu cá nhân của mình về mùa thu 1945 tại Sài Gòn, một mặt như để góp phần vào sự hiểu biết thêm về sự kiện quan trọng này, mặt khác cũng là để lưu giữ lại sự độc đáo của cách mạng Nam kỳ trong bối cảnh nhiều người đang cố gắng làm lu mờ tính đặc thù đó. Sử liệu mình sử dụng trong loạt bài này ngoài các văn bản sơ cấp, thì còn bao gồm lời kể của các nhân vật tham gia vào khởi nghĩa tháng Tám tại miền Nam được in lại trong bộ sách “Mùa thu rồi, Ngày hăm ba” (in năm 1995), nghiên cứu của GS David Marr trong cuốn Vietnam 1945: The Quest for Power, hồi ký của bà Nguyễn Thị Thập, của ông Nguyễn Văn Trấn, ông Hoàng Quốc Việt, nghiên cứu về chính quyền Trần Trọng Kim của Vũ Ngự Chiêu, Phạm Cao Dương và một vài xuất bản phẩm khác tại Việt Nam và quốc tế… Tất nhiên, các sử liệu này cũng đã “có tuổi” và mình thật sự hy vọng các sử liệu mới từ Lưu trữ Quốc gia Việt Nam và những quan sát từ phía người Nhật, người Mỹ, người Pháp, người Anh có mặt tại Sài Gòn vào thời điểm đó sẽ giúp câu chuyện trở nên sáng tỏ, phong phú hơn.
Tình hình cách mạng Nam Bộ năm 1945 – hậu quả của Nam kỳ Khởi nghĩa
Để hiểu về khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Sài Gòn, nhất thiết phải quay lại với tình hình Nam Bộ từ sau Khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940). Việc đánh giá một sự kiện lịch sử một cách độc lập, riêng lẻ thật ra không khác gì làm capcut lịch sử và đưa lên tiktok. Với mình, đây là sự phỉ báng lịch sử và tinh thần khoa học khách quan. Một sự kiện không tồn tại riêng lẻ, mà là kết quả của một quá trình lịch sử, không thể là từ trên trời rơi xuống. Chính vì vậy, ngay cả việc cho rằng hiểu về khởi nghĩa tháng Tám cần bắt đầu bằng việc đánh giá tình hình từ sau Khởi nghĩa Nam kỳ 1940 cũng là một sự khinh suất mà mình đành phải chấp nhận để có thể bắt đầu câu chuyện ở đâu đó.
Khởi nghĩa tự thân nó hình thành là do những cá nhân lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nhìn nhận “thời cơ đã chín muồi”. Đối với các cuộc khởi nghĩa chống lại ngoại bang mạnh hơn mình, lòng dân thôi là chưa đủ, mà còn phải là sự suy yếu trên bình diện quốc tế. Tháng 11/1940 manh nha cho một sự suy yếu của Pháp, kẻ về danh nghĩa vẫn đang thống trị Đông Dương, khi nước này đã hoàn toàn thất bại trong cuộc Đệ Nhị thế chiến. Tuy nhiên, sự thất bại của người Pháp ở Tây Âu không có nghĩa là lính Pháp ở Đông Dương sẽ buông vũ khí khi có khởi nghĩa. Khởi nghĩa Nam kỳ tháng 11/1940 cho đến nay vẫn được nhìn nhận là một hành động anh hùng của Xứ ủy Nam kỳ, nhưng hoàn toàn nóng vội và gây ra hậu quả to lớn. Hậu quả này không chỉ là về người (khi toàn bộ ban lãnh đạo của Xứ ủy Nam kỳ, cùng với Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ đều bị bắt và hành quyết – cùng với Tổng bí thư tương lai Lê Duẩn cũng bị bắt trong giai đoạn này), mà còn tạo ra tâm lý nặng nề cho những nhà cách mạng Marxist miền Nam. Nó khiến cho những nhà cách mạng chuyên nghiệp như Dương Bạch Mai – người còn ngồi tù khi khởi nghĩa bùng nổ nhưng được dự kiến đưa lên làm Thủ tướng nếu thành công – phải tìm quên trong bài tứ sắc suốt 5 năm, Nguyễn Oanh phải đi đóng giày để che giấu thân phận… Bà Nguyễn Thị Thập kể về tình cảnh bi đát của Xứ ủy Nam kỳ sau khởi nghĩa thất bại bằng việc mô tả quá trình bà đi tìm, móc nối, và khó nhất là vận động lại các đồng chí cũ của bà tham gia hoạt động lại. Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt mô tả 5 năm sau Khởi nghĩa Nam kỳ là 5 năm khó khăn muôn trùng cam go, khi ngay chính đơn vị ông sinh hoạt là Liên tỉnh ủy U Minh liên tục mất bí thư do có phản bội.
Trong bối cảnh đó, có thể nói là hiện diện của Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Nam Bộ, mà đại diện là Xứ ủy Nam kỳ, gần như biến mất. Trong suốt 4 năm, không dưới 3 lần Pác Bó tìm cách bắt lại liên lạc với những người cách mạng trong miền Nam nhưng không được. Ông Dương Quang Đông kể việc nhiều liên lạc từ miền Bắc vào vừa chỉ kịp trao cho một nhà cách mạng Nam kỳ nào đó bản sao của Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII về việc thành lập Việt Minh thì đã bị mật thám Pháp bắt. Hai anh em Nguyễn Hữu Ngoạn – Nguyễn Hữu Xuyến (người sau này là trung tướng quân đội, tư lệnh đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam), người hy sinh, người bị bắt khi cố gắng làm cầu nối cho miền Nam với miền Bắc.
Miền Nam vào thời điểm đó cũng xuất hiện các phong trào yêu nước, chống thực dân phi Cộng sản phát triển cực kì mạnh mẽ. Phong trào của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo thu hút hàng triệu người, được vũ trang và tổ chức tốt. Nhóm các đảng phái quốc gia nhỏ, hay nhóm Trotskyists vốn được xem là bạn chiến đấu cũ của Nguyễn An Ninh – một chí sĩ rất có uy tín tại miền Nam – lựa chọn hướng đấu tranh theo kiểu nghị trường, màu sắc Gandhi, thay vì đối đầu vũ trang. Nạn đói năm 1945 cũng không quá ảnh hưởng đến Nam kỳ trù phú đất đai và ít bị máy bay Mỹ ném bom như ở miền Bắc. Hiện tình này khiến lòng người dân Nam kỳ có chi phối, chứ không nhất thiết xem khởi nghĩa vũ trang, phá kho thóc như một lựa chọn duy nhất. Khẩu hiểu “phá kho thóc cứu đói” của Việt Minh phía Bắc vì vậy không có nhiều tác động với người dân miền Nam.
Trong bối cảnh như vậy, những nhà cách mạng Cộng sản miền Nam thực sự đã phải có những sáng tạo nhất định trong quá trình khôi phục lực lượng, làm cách mạng của mình. Kết quả của quá trình này chính là sự đa dạng ngay trong chính nội bộ của nhóm Cộng sản miền Nam.
Hình thành hai xứ ủy
Nỗ lực phi thường của bà Nguyễn Thị Thập như có đề cập ở trên phần nào khôi phục được kết nối của những người Cộng sản tại các tỉnh miền Tây. Nhóm này bao gồm các lãnh đạo cấp địa phương của Khởi nghĩa Nam kỳ chạy trốn được sự truy quét, nay tập hợp lại để mưu sự với nhau. Tuy nhiên, như bà cũng thừa nhận là hoạt động của nhóm này khá yếu, và chịu đàn áp thường xuyên. Nhóm này về sau xuất bản một tờ báo gọi là “Giải phóng”, cho nên thường được gọi là “Xứ ủy Giải phóng”. Vào thời điểm tháng Tám năm 1945, nhóm này được cho là hoạt động chính ở Cần Thơ.
Bên cạnh Xứ ủy Giải phóng là một nhóm của những người Cộng sản đi du học ở Pháp hoặc Nga về, hoạt động trong cao trào của Phòng trào Dân chủ những năm cuối 1930. Nhóm này được thành lập vào năm 1943, sau khi ông Trần Văn Giàu, một cựu sinh viên của đại học Phương Đông Moskva và thường được ví là “giáo sư đỏ” của những nhà cách mạng thời ở Côn Lôn, cùng các đồng chí của mình vượt ngục Tà Lai về. Nhóm cộng sản này có xuất thân chủ yếu là những người trí thức giống ông Giàu, và hoạt động ở khu vực thành thị hơn của miền Nam (như Mỹ Tho, Sài Gòn). Lấy lý do là Xứ ủy Nam kỳ đã bị tan rã do đàn áp của Pháp, nhóm này thành lập một Xứ ủy mới, gọi là “Xứ ủy Tiền phong”, theo tên gọi của tờ báo do nhóm chủ biên.
Sự tồn tại song song của hai Xứ ủy trong cùng Đảng bộ miền là điều rất khó chấp nhận với một đảng cộng sản. Hai xứ ủy này không chỉ tồn tại bên cạnh nhau, mà còn có sự chia rẽ trong phương thức hành động, khẩu hiệu hành động. Ví dụ, sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 09/03/1945, Xứ ủy Tiền phong đã thay đổi khẩu hiệu cách mạng thành “Kháng Nhật, kiến quốc”. Điều này khiến Xứ ủy Giải phóng không đồng tình, thậm chí phê phán phe Tiền phong là “thân Pháp” vì dám bỏ khẩu hiệu chống Pháp. Sự xung đột này một phần có lẽ cũng xuất phát từ tính cách của hai bí thư Xứ ủy là Trần Văn Giàu (Tiền phong) và Dân Tôn Tử (Giải phóng). Bà Nguyễn Thị Thập có kể là hai nhân vật này vốn có hiềm khích do hay tranh luận thời còn ở Côn Đảo nên gần như tránh đụng mặt nhau. Một hiềm khích khác nằm ở vấn đề cách thức hành động. Trong một lần hiếm hoi mà lãnh đạo hai Xứ ủy gặp nhau, diễn ra vào mùa hè năm 1945 giữa bà Nguyễn Thị Thập và ông Trần Văn Giàu, hai bên thảo luận về việc thống nhất hành động trong tình hình sắp tới. Tuy nhiên, bà Thập phê phán ông Giàu khi chấp nhận sử dụng cờ vàng sao đỏ (cờ của Thanh niên Tiền phong – đây là một lực lượng thú vị, sẽ nói sau) làm cờ hiệu hoạt động chính, trong khi Trung ương đã thống nhất dùng cờ đỏ sao vàng. Theo bà Thập, ông Giàu thì cho rằng dùng cờ đỏ sao vàng thì dễ lộ bản chất Cộng sản, khi phe Đồng minh vào thì bất lợi. Bà Thập thì lý luận rằng miền Bắc dùng cờ đỏ sao vàng, miền Nam dùng cờ vàng sao đỏ thì còn gây bối rối hơn (một chi tiết thú vị ở đoạn này là sau này, khi miền Nam dùng cờ đỏ sao vàng thì họ lại dùng sao vàng “gầy”, trong khi miền Bắc dùng sao vàng “béo”). Cuối cùng, hai bên không thống nhất được và tiếp tục có hiềm khích với nhau. Đây là điều mà Trung ương Đảng về sau có nhìn nhận như một khách quan lịch sử, không bên nào đúng, bên nào sai cả. Các nhà nghiên cứu thì thường gọi hai phe này là “Việt Minh cũ” (Giải phóng) và “Việt Minh mới” (Tiền phong).
Vậy sự tồn tại của hai Xứ ủy có khuynh hướng đối địch nhau này được Pác Bó biết đến khi nào? Như đã đề cập ở trên, Pác Bó đã tìm rất nhiều cách để bắt nối lại liên lạc với những người cộng sản miền Nam, nhưng thất bại. Thành công nhất có lẽ là nỗ lực của Nguyễn Hữu Ngoạn, anh trai của ông Nguyễn Hữu Xuyến đã kể ở trên, khi ông Ngoạn vào và lãnh đạo Xứ ủy Giải phóng trong gần 2 năm. Thời gian này, liên lạc giữa Pác Bó và Xứ ủy Giải phóng là có, nhưng có lẽ cũng không nhiều điều để chỉ đạo do tình hình thế giới chưa rõ ràng. Ông Ngoạn cùng với một vài đồng chí, trong đó có Trần Văn Trà – tư lệnh tương lai của Quân Giải phóng miền Nam – lúc này với bí danh là Lê Văn Thắng, tổ chức in ấn báo Giải phóng. Tuy nhiên, ông Ngoạn bị bắt và hy sinh và từ năm 1944, liên lạc với Pác Bó lại mất hẳn.
Về sau, trong năm 1945, Pác Bó tiếp tục cử thêm vài sứ giả vào Nam để tìm cách móc nối liên lạc với miền Nam. Khi hai ông Hà Huy Giáp và Ung Văn Khiêm vượt ngục thành công về lại với Xứ ủy Tiền phong thì liên lạc với miền Bắc mới bắt đầu xuất hiện lại. Ở đây, vai trò của ông Hà Huy Giáp là rất lớn khi ông tham gia Xứ ủy Tiền phong từ sau 09/03/1945 (khi Nhật đảo chính Pháp) thì ông rất coi trọng việc phải bắt liên lạc lại với Pác Bó. Để làm được việc này, ông cử một thanh niên từng tốt nghiệp tú tài ở Hà Nội, biết nói tiếng Anh, là Lý Chính Thắng ra Bắc để bắt liên lạc. Về phần mình, Trung ương Đảng do Trường Chinh lãnh đạo cũng dự đoán là sau 09/03/1945, nếu còn Xứ ủy trong miền Nam, thì họ sẽ bắt liên lạc với miền Bắc. Vì vậy, Trường Chinh đã cử một nữ đồng chí với bí danh Cái Thị Tám (tức bà Nguyễn Thị Kỳ – phu nhân của đại tướng Văn Tiến Dũng) làm liên lạc viên. Nhưng sự mơ hồ về tình hình miền Nam của Pác Bó thể hiện rõ qua lời kể của bà Tám, đó là việc Trường Chinh dặn bà vào Nam thì liên hệ với cơ sở của Xứ ủy theo một địa chỉ có từ trước là một xưởng đóng giày tại đường Catinat (nay là Đồng Khởi). Bà Tám sau đó được Lý Chính Thắng dẫn vào Nam trong một hành trình kéo dài hơn tuần lễ với nhiều tình tiết ly kỳ như phim (có lúc hai người phải đi nhờ xe một sĩ quan Nhật có ý muốn lấy bà Tám làm lẻ – nhưng đây là một câu chuyện khác). Khi vào tới Sài Gòn, địa chỉ mà bà Tám được Trường Chinh giao cho hóa ra là không có thật, khiến bà không thể móc nối được với tổ chức mà ông Chinh muốn. Về sau, bà Tám nghe ông Ung Văn Khiêm kể lại thì thật ra không có xưởng giày cơ sở nào cả, mà người ông Chinh nhắc đến là Nguyễn Oanh, bí thư Gia Định, vốn làm nghề thợ giày cho một tiệm giày ở đường Georges Guynemer (nay là đường Hồ Tùng Mậu), là một nhánh của đường Catinat.
Tuy vậy, trong chuyến đi này, bà Tám cũng đã kịp giao “Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” cho hai ông Ung Văn Khiêm và Hà Huy Giáp. Từ đó về sau, một sợi dây liên lạc lỏng lẻo được hình thành giữa Pác Bó và Xứ ủy Tiền phong, thông qua vai trò của hai ông Khiêm và Giáp. Tuy nhiên, người lãnh đạo thực sự của Xứ ủy Tiền phong là ông Trần Văn Giàu thì có lẽ chưa bao giờ được gặp bà Tám. Về sau, bà Tám vào Sài Gòn hai lần nữa. Một lần để triệu tập đại diện của Xứ ủy Tiền phong ra Bắc họp Đại hội Tân Trào (hai ông Khiêm và Giáp đi). Một lần nữa là để cầm lệnh Tổng khởi nghĩa vào Sài Gòn (tuy nhiên, khi bà đến nơi thì Sài Gòn đã giành được chính quyền).
Đối với “Việt Minh cũ”, không biết bằng cách nào thì vào đầu tháng 08/1945, Pác Bó cũng đã cử được người vào bắt liên lạc để Xứ ủy Giải phóng gửi người ra Bắc dự Đại hội Tân Trào. Đoàn của Giải phóng đi bằng xe hơi, có tổng cộng 6 người, bao gồm bà Nguyễn Thị Thập, hai phái viên Pác Bó gửi vào, và ba đại diện khác của Xứ ủy, trong đó có cả ông Lý Phú Xuân là đại diện của Hòa Hảo (đây là chi tiết rất thú vị vì một đại biểu tôn giáo lại đi trong đoàn của một xứ ủy cộng sản). Hành trình đi xe hơi từ Nam ra Bắc của đoàn bà Thập gặp không ít trắc trở vì Việt Nam thời điểm đó là một lãnh thổ bị chiếm đóng bởi quân đội Nhật đang bại trận và rối ren. Đoàn bà Thập chỉ đến được Hà Nội vào ngày 19/08, tức là sau khi Đại hội đã quyết định xong vấn đề Tổng khởi nghĩa và Hà Nội đã giành chính quyền. Như vậy, chuyến đi của đoàn bà Thập là gần như công cốc. Đoàn của Xứ ủy Tiền phong thật ra cũng không khá hơn là mấy khi ông Ung Văn Khiêm bị lạc đoàn ở Hà Nội, và tuy có dự được phiên cuối của Đại hội Tân Trào, những gì được thảo luận tại Tân Trào đã không đến được tai của các lãnh đạo khởi nghĩa trong Sài Gòn cho đến tận ngày 02/09/1945.
Đối với Pác Bó, thì chuyến công tác này của đại diện hai Xứ ủy lại có ý nghĩa trong việc siết lại kỷ luật đảng tại Nam Bộ. Trường Chinh đặt thẳng vấn đề sáp nhập hai Xứ ủy trong thời gian hai đoàn lưu lại Hà Nội, và cử một đại diện cao cấp của Tổng bộ Việt Minh là ông Hoàng Quốc Việt đi theo đoàn bà Thập vào lại Sài Gòn để làm đại diện miền Nam cho Hà Nội. Không biết rằng trong chuyến đi hết gần một tuần vào Nam đó, ông Việt và bà Thập có thảo luận gì không, nhưng chắc chắn sự chia rẽ giữa hai Xứ ủy là rõ nét trong mắt ông Việt sau sự vụ đoàn xe của ông bị Thanh niên Tiền phong chặn lại ở Biên Hòa (và chỉ được thả ra khi có người nhận ra bà Thập và nói rằng đây là phe mình). Ông Việt về sau sẽ đại diện Tổng bộ Việt Minh đề nghị giải tán Thanh niên Tiền phong và thống nhất hai Xứ ủy dưới sự lãnh đạo của ông Ung Văn Khiêm.
Như vậy, sự tồn tại của hai Xứ ủy trong suốt thời gian tiền khởi nghĩa đã cho thấy tính đa dạng của cách mạng miền Nam vào thời điểm này. Việc khó khăn trong bắt liên lạc giữa Pác Bó (và sau là Hà Nội) với Sài Gòn là khách quan, và cũng càng khẳng định tính độc lập và chủ động trong các quyết sách về sau của những nhà lãnh đạo khởi nghĩa ở Sài Gòn. Họ đã phải ra lệnh tổng khởi nghĩa trong bối cảnh chưa nhận được lệnh này từ Trung ương, và với nhiều lo sợ khác mà chúng ta sẽ nói trong các phần sau.
**********Kỳ 2: Thanh niên Tiền phong và Tiến tới tổng khởi nghĩa
Lực lượng Thanh niên Tiền phong
Lực lượng chủ đạo đi giành chính quyền tại Sài Gòn và nhiều địa phương ở Nam Bộ trong Cách mạng Tháng Tám chính là Thanh niên Tiền phong. Đây là một lực lượng đặc biệt, được xây dựng và tổ chức bởi bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, một cảm tình viên Cộng sản, và được huấn luyện, vũ trang bởi chính người Nhật.
Để hiểu về Thanh niên Tiền phong, cần hiểu bối cảnh của cuộc đảo chính ngày 09/03/1945 của Nhật đối với Pháp. Đông Dương từ sau năm 1940 đã trở thành một thuộc địa trên danh nghĩa của Pháp, nhưng trên thực tế của Nhật. Sự đầu hàng của Pháp trước Đức Quốc Xã khiến cho Nhật có thể dễ dàng đóng quân ở Đông Dương, và yêu cầu chính quyền Pháp ở đây tham gia vào việc phòng thủ chung chống lại phe Đồng Minh. Vì lẽ đó mà Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng trở thành mục tiêu ném bom của máy bay Mỹ trong suốt Thế chiến. Khi người Nhật thất bại liên tục trên biển vào năm 1945, bộ tư lệnh Nhật đã tin rằng một cuộc đổ bộ của Đồng Minh vào các lãnh thổ của Nhật là không thể tránh khỏi (đặc biệt là sau khi Philippines đã bị quân Đồng Minh chiếm lại). Chính vì vậy, người Nhật quyết định tăng cường sự thống trị của mình lên các lãnh thổ dễ bị đổ bộ, chẳng hạn như Đông Dương. Viện cớ người Pháp “không thành thật” trong việc thi hành hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương, Nhật nổ súng trong một đêm, lật đổ Pháp tại Đông Dương. Diễn biến của cuộc đảo chính này được bác sĩ Ngô Văn Quỹ viết khá kĩ trong cuốn sách “Đêm dài Nhật Pháp bắn nhau” do NXB Trẻ xuất bản năm 2001. Lúc này, nhận thấy một thời cơ cách mạng dần chín muồi (đó là Nhật đã lật được Pháp, mà Nhật vốn là một quốc gia phe Trục đang trên đà thất bại), Trung ương Đảng do Trường Chinh đứng đầu đã ra “Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12/03/1945. Nội dung chủ yếu của chỉ thị này đó là thay đổi khẩu hiệu từ chống Nhật, Pháp sang tập trung chống Nhật, nhằm thể hiện bản chất chống phát xít của phong trào cách mạng Việt Nam, tranh thủ phe Đồng Minh. Chỉ thị cũng yêu cầu cả nước chuẩn bị Tổng khởi nghĩa trong tinh thần chủ động chớp thời cơ bằng một lực lượng được xây dựng dần dần thông qua phát động chiến tranh du kích, chiếm cứ điểm, phá kho thóc v.v…

Đây là một chỉ thị quan trọng, tuy nhiên không hẳn là phù hợp cho bối cảnh cách mạng cả nước. Thực tế thì chỉ thị được hưởng ứng mạnh mẽ ở vùng nông thôn, đặc biệt là nông thôn phía Bắc sẽ chịu nạn đói hoành hành trong năm 1945 (một ngoại lệ là Quảng Ngãi, nơi du kích Ba Tơ chiếm được chính quyền khá sớm). Đường lối khởi nghĩa có phần Maoist (lấy nông thôn bao vây thành thị) này lại khó mà áp dụng ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế. Về sau, diễn biến của Cách mạng sẽ cho thấy chỉ khi có sự kết hợp của khởi nghĩa thành thị và nông thôn thì Cách mạng tháng Tám mới thành công. Đối với Nam Bộ, có lẽ nhờ tiếp cận chỉ thị này từ sớm qua liên lạc của bà Tám và ông Giáp mà Xứ ủy Tiền phong đã có khẩu hiệu “kháng Nhật, kiến quốc” khá sát với chỉ đạo của Pác Bó (tuy họ sẽ bị phe Giải phóng phê phán là thân Pháp).
Điều thú vị là trong Hồi ký và những bài viết kể lại sự kiện tháng Tám 1945 ở Sài Gòn, ông Giàu không nhắc mấy đến chỉ thị này, mà chỉ nhắc nhiều đến tinh thần của Nghị quyết Trung ương VIII từ năm 1941 về thành lập Việt Minh. Đối với ông Giàu, Việt Minh như một tổ chức đủ lớn để cho ông nhiều lý lẽ hành động theo cách mà ông thấy phù hợp. Ông từ chối thành lập các đoàn quân du kích ở miền Nam để chiếm cứ điểm như chỉ thị tháng 03/1945 có yêu cầu. Ông cũng chưa một lần ra Bắc hay gặp liên lạc viên của Trung ương để nhận lệnh. Trái lại, lực lượng mà ông dựa vào để hành động lại là Thanh niên Tiền phong, và kim chỉ nam của ông ngoài Nghị quyết VIII thì còn là kinh nghiệm về giành chính quyền mà Lenin đúc kết trong Cách mạng tháng Mười Nga, và trong tác phẩm Bàn về Cách mạng viết về Cách mạng 1905.
Trở lại với nội tình Việt Nam sau đảo chính Pháp – Nhật, dưới danh nghĩa Đại Đông Á, Nhật mau chóng trao trả độc lập danh nghĩa cho vua Bảo Đại, hòng có điều kiện thành lập ở Việt Nam các lực lượng quân địa phương như cách họ làm ở Miến Điện hay Mãn Châu. Vua Bảo Đại sau đó chỉ định sử gia Trần Trọng Kim thành lập một chính quyền gọi là Đế Quốc Việt Nam. Đây là một chính quyền phôi thai vì cơ sở hoạt động của nó là một Đạo Dụ của Bảo Đại, còn bản hiến pháp thì được cho là sẽ do một hội nghị lập hiến thông qua nhưng cuối cùng đã không thành sự thật. Đặc biệt, chính quyền này có vẻ là một chính quyền liên Kỳ, nơi mỗi Kỳ đều có một đại diện của Bảo Đại đóng vai trò không khác gì các quan toàn quyền Pháp ngày xưa ở mỗi Kỳ (gọi là quan khâm sai). Tất nhiên, bên cạnh mỗi quan khâm sai ở mỗi Kỳ là một cố vấn Nhật Bản, người trên danh nghĩa sẽ “cố vấn” các quyết định quan trọng trong thời gian Việt Nam chưa có hiến pháp.
Ngoài ra, chính quyền này cũng là một chính quyền không có quân đội. Có lẽ người Nhật chưa mấy tin tưởng vào ông vua Tây học Bảo Đại nên không muốn tổ chức một đội quân có thể bắn lại họ khi Đồng Minh đổ bộ. Tuy nhiên, chính quyền Trần Trọng Kim lại thương lượng được với người Nhật thành lập một Bộ gọi là Bộ Thanh Niên, do luật sư Phan Anh lãnh đạo, cốt để rèn luyện thể thao, sức khỏe, kỹ năng cho thanh niên theo tinh thần của Hướng Đạo Sinh. Một lực lượng hàng triệu thanh niên vì vậy đã được huy động và thực tế, họ không khác gì một đội quân sẵn sàng cầm súng chiến đấu (tất nhiên, đội thanh niên này chưa có súng trong tay). Ở miền Bắc và Trung, luật sư Phan Anh tổ chức được đội Thanh niên Tiền tuyến (hay còn gọi là Thanh niên Phan Anh, Thanh niên Hoàng Diệu). Còn ở miền Nam, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được giao tổ chức Thanh niên Tiền phong, hoạt động như một tổ chức bán vũ trang, có nhiệm vụ bảo vệ xóm làng, địa phương. Thanh niên Tiền phong còn tham gia cứu hộ, cứu nạn trong các vụ oanh tạc của phe Đồng Minh ở miền Nam, và tham gia vận động của cải, lương thực ứng cứu cho miền Bắc trong nạn đói Ất Dậu. Theo thống kê, lực lượng này ở Sài Gòn là 20 vạn, và trên toàn cõi miền Nam là hơn 1 triệu. Quân số Nhật Bản ở toàn Đông Dương thời điểm này là vào khoảng 30 vạn quân. Nhạc hiệu của tổ chức là bài Lên Đàng của Lưu Hữu Phước. Cờ hiệu là cờ vàng sao đỏ. Đồng phục áo sơ mi trắng cọc tay, quần đùi trắng, nón cối trắng. Sẽ không quá khi nói Thanh niên Tiền phong chính là lực lượng quân đội của chính quyền Trần Trọng Kim tại Sài Gòn.
Người Nhật ủng hộ và thực tế là có huấn luyện cho Thanh niên Tiền phong. Họ cũng cần một lực lượng dù là bán vũ trang sẵn sàng chiến đấu nếu quân Đồng Minh đổ bộ. Điều họ không ngờ rằng đa số các thành viên trong ban lãnh đạo Thanh niên Tiền phong thực tế là các cảm tình viên của Việt Minh. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ngay sát ngày khởi nghĩa thậm chí còn treo cờ đỏ búa liềm tại tư gia như sự thách thức phía Nhật. Luật sư Thái Văn Lung về sau sẽ hy sinh khi tham gia kháng chiến chống Pháp. Kỹ sư Kha Vạng Cân, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, đặc biệt là ba sinh viên Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước thì đều đã móc nối với Việt Minh và cá nhân ông Trần Văn Giàu để sẵn sàng huy động lực lượng này đi chiếm chính quyền.
Nói một chút về bộ ba Huỳnh – Mai – Lưu này. Thời điểm khởi nghĩa tháng Tám, ba người đều có danh xưng là “sinh viên”, nhưng trên thực tế họ đã bỏ học từ năm 1943 theo vận động của một đại diện Việt Minh. Ông Huỳnh Văn Tiểng kể lại rằng vào năm 1943, khi còn theo học ở Viện đại học Đông Dương ở Hà Nội, ba ông và nhiều sinh viên khác có một cuộc họp với một đại diện của Tổng bộ Việt Minh (không rõ tên). Trong cuộc họp này, đại diện Việt Minh khuyên các sinh viên miền Nam nên… bỏ học để vào lại miền Nam chuẩn bị tranh đấu, và cần thiết phải lập một chính đảng cho giới trí thức gọi là Đảng Dân Chủ. Lời kêu gọi “bỏ học” đó được hưởng ứng và nhóm sinh viên miền Nam quyết định “xếp bút nghiên” về Nam tranh đấu. Họ sử dụng vỏ bọc hợp pháp như dạy học, nhạc sĩ v.v… để tuyên truyền lòng yêu nước. Các tác phẩm của bộ đôi Huỳnh Văn Tiểng và Lưu Hữu Phước trong thời gian này cũng đã trở thành quốc ca, quốc hiệu, nhạc lễ của cả hai chính thể Việt Nam sau này. Hoạt động của họ dưới danh nghĩa Đảng Dân Chủ đã lôi kéo được các trí thức khác như Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc Thạch tham gia (tương tự như miền Bắc, Đảng Dân Chủ huy động được Vũ Đình Hòe, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Vũ Trọng Khánh, Nghiêm Xuân Yêm v.v…) và cũng không thoát khỏi con mắt của Trần Văn Giàu. Tất nhiên, sự nghi kị ban đầu là có vì theo ông Giàu, ông không rõ nhóm này hoạt động tôn chỉ gì, mục đích ra sau. Nhưng dần dần thì ông Giàu đã nhìn thấy được nhóm thanh niên này sẽ rất hữu ích cho cuộc cách mạng về sau.
Như vậy, bên cạnh quần chúng nhân dân, công nhân trong các công đoàn, thì lực lượng chủ lực để đi cướp chính quyền ở Sài Gòn lại chính là lực lượng Thanh niên Tiền phong, vốn được xây dựng để phục vụ chính quyền Trần Trọng Kim, nhưng đã trở thành một phần của Việt Minh.
Tiến tới tổng khởi nghĩa
Trong hồi ký của mình, ông Trần Văn Giàu thừa nhận bản thân đã nhận định sai tình hình khi tin rằng Nhật Bản sẽ thua trận, nhưng ít nhất cũng sẽ trụ được đến cuối năm 1945. Nhận định này không phải không có cơ sở vì tuy thua liên miên trên các đảo, bầu trời Nhật Bản bị khống chế, và hải quân Nhật Bản xem như không còn tồn tại, lục quân Nhật Bản còn rất đông và nội địa Nhật Bản vẫn chưa bị xâm phạm. Cần nhớ rằng Đồng Minh chỉ đánh gục được Đức Quốc Xã và Phát xít Ý khi tiến hành các cuộc đổ bộ đẫm máu ở phía Tây, và tiến quân khủng khiếp ở phía Đông. Ngay cả Tổng tham mưu trưởng Đại tướng George Marshall của Mỹ cũng nhận định, một cuộc đổ bộ để đánh gục quân Nhật ở Thái Bình Dương sẽ tiêu tốn của Mỹ ít nhất 500.000 quân nhân.
Điều mà ông Giàu và nhiều người không ngờ tới đó là hai quả bom nguyên tử ném vào Hiroshima và Nagasaki trong những ngày đầu tháng 08/1945. Liên Xô tức tốc tuyên chiến và tấn công Đạo quân Quan Đông của Nhật trên toàn cõi Mãn Châu đẩy nhanh sự gục ngã của ý chí chiến đấu của Nhật Bản. Với sự trung thành cuối cùng dành cho Nhật Hoàng, phe quân phiệt Nhật phất cờ trắng đầu hàng vì lo ngại chính bản thân Tokyo sẽ bị ném bom. Nhật Bản thất bại chỉ sau hai quả bom tạo nên cú sốc to lớn cho toàn bộ quân đội Nhật ở khắp nơi tại Đông Á. Tin tức Nhật đầu hàng cũng là một đòi hỏi cho các nhà cách mạng ở Việt Nam phải hành động. Câu hỏi bây giờ đó là ai đủ dũng cảm để chớp thời cơ, giành chính quyền. Ở đây, mình trộm nghĩ rằng Việt Nam đã có phần may mắn khi tuy Cách mạng diễn ra không thống nhất trên cả nước, nhưng nhìn chung vẫn đã quy về một mối là Việt Minh giành chính quyền. Mình không hình dung được điều gì sẽ xảy ra nếu ở mỗi Kỳ, các lực lượng chính trị khác nhau giành được chính quyền.
Quay trở lại, chúng ta đều biết rằng Nam Bộ lúc này gần như không kịp có tin tức về những mệnh lệnh khởi nghĩa hay quân lệnh từ Pác Bó. Vì vậy, họ phải hành động độc lập. Đối với người Cộng sản, họ có hai lựa chọn. Lựa chọn 1 phù hợp với tinh thần, kỷ luật đảng, đó là chờ lệnh từ Trung ương và hành động. Làm như vậy có thể mất thời cơ, nhưng đảm bảo có sự thông suốt từ Bắc vào Nam. Lựa chọn 2 là căn cứ tình hình thực tế và triển khai khởi nghĩa. Tất nhiên, những người theo lựa chọn này phải đối mặt với rủi ro rằng họ hành động một mình, và một Khởi nghĩa Nam kỳ khác sẽ lại lặp lại.
Theo hồi ký của bà Nguyễn Thị Thập thì có thể thấy rằng Xứ ủy Giải phóng đã chọn làm theo Lựa chọn 1 bằng việc cử ra tới 4 đại biểu dự Đại hội Tân Trào. Xứ ủy Tiền phong một mặt vẫn cử người ra dự Đại hội Tân Trào, mặt khác với tính cách sôi nổi của Trần Văn Giàu, đã quyết định chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Một ủy ban khởi nghĩa năm người do Trần Văn Giàu lập ra để chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Ông Giàu lý luận rằng khởi nghĩa ở Nam kỳ chỉ thành công nếu nó nổ ra đầu tiên và thành công ở Sài Gòn. Quan điểm cách mạng từ thành phố lớn rồi lan rộng ra nông thôn phù hợp hoàn toàn với những gì ông được dạy ở đại học Phương Đông Moskva, vì đó chính là cách mà Lenin đã chỉ đạo cuộc Cách mạng tháng Mười 1917.
Tuy nhiên, các thành viên khác trong Ủy ban khởi nghĩa (bao gồm cả các đại diện của Thanh niên Tiền phong) không muốn khởi nghĩa mà không có sự đồng ý của Xứ ủy Tiền phong. Vì vậy, một cuộc họp mở rộng của Xứ ủy Tiền phong đã diễn ra tại Chợ Đệm, Hóc Môn vào đêm 16, rạng sáng ngày 17/08/1945. Lịch sử chính thống gọi là Hội nghị Chợ Đệm.
Sử liệu về Hội nghị Chợ Đệm, tiếc thay, lại quá hiếm hoi. Đa số những gì diễn ra tại Hội nghị đều do ông Trần Văn Giàu và một phần nào đó là ông Chín Trọng, bí thư Đảng bộ Tân An, kể lại. Vì vậy, ở phần này, mình lưu ý rằng diễn biến của Hội nghị Chợ Đệm là thông qua lời kể của ông Giàu được in trong Hồi ký của ông, và trong bộ sách “Mùa thu rồi, Ngày hăm ba” in năm 1995 (do ông Giàu chủ biên, có sự tham gia của ông Võ Văn Kiệt, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Văn Hưởng, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng, Trần Văn Trà, và một nhân vật viết lại lời kể của nhân chứng có tên là Tô Lâm – nhưng không biết chính xác đây là ai).














