Chuột nguyên thủy to bằng con ngựa

Thứ Sáu, 24 Tháng Sáu 20227:00 SA(Xem: 579)
Chuột nguyên thủy to bằng con ngựa

Nghiên cứu mới trên tạp chí Royal Society Open Science phát hiện chuột tiền sử có kích thước gần với ngựa pony ngày nay thay vì to bằng con bò như ước tính trước đây.

Hình ảnh phục dựng của chuột Josephoartigasia monesi. Ảnh: Wikipedia

Hình ảnh phục dựng của chuột Josephoartigasia monesi. Ảnh: Wikipedia

Các loài chuột hiện đại có kích thước đa dạng từ chưa đến 28 g (chuột nhắt lùn) tới 79,4 kg (chuột lang nước). Nhưng ngay cả con chuột lớn nhất cũng không là gì so với một số loài chuột tiền sử có vẻ ngoài giống như lai giữa chuột lang nước ngoại cỡ và hà mã. Các nhà cổ sinh vật học ước tính chuột Phoberomys pattersoni có thể nặng tới 590 kg. Một loài chuột khác là Josephoartigasia monesi nặng khoảng 907 kg, tương đương bò bison.

Tuy nhiên, những dự đoán kích thước này từ lâu đã dấy lên nhiều tranh cãi. "Mọi người nói chúng to như bò bison, nhưng không ai có bất kỳ phương pháp nào để tính toán chính xác", Russell Engelman, nhà cổ sinh vật học ở Đại học Case Western Reserve, cho biết.

Vì vậy, Engelman đề xuất phương pháp mới nhằm mô tả kích thước của chuột tiền sử khổng lồ. Trong nghiên cứu công bố hôm 15/8 trên tạp chí Royal Society Open Science, ông tính toán kích thước của chúng bằng cách so sánh khớp sau hộp sọ Phoberomys, Josephoartigasia và nhiều loài chuột cổ đại khác với động vật có vú hiện đại.

Cách đây 2 - 8 triệu năm, chuột Phoberomys và Josephoartigasia sinh sống ở đầm lầy Nam Mỹ. Theo Ernesto Blanco, nhà cổ sinh vật học ở Đại học Cộng hòa tại Uruguay, người phát hiện hộp sọ Josephoartigasia vào năm 2008, chuột khổng lồ có nhát cắn mạnh gấp 3 lần hổ hiện đại, giúp bảo vệ chúng trước động vật săn mồi như chim khủng bố và thú có túi răng kiếm.

Phần lớn hiểu biết của chúng ta về các loài chuột này xoay quanh kích thước của chúng. "Kích thước có thể là đặc điểm quan trọng của động vật có vú bởi mọi thứ bạn không thể đo đạc ở hóa thạch như sinh thái và sinh lý học đều có tương quan với kích thước cơ thể", Virginie Millien, nhà động vật học ở Đại học McGill, cho biết. Năm 2010, Millien sử dụng hóa thạch xương đùi để ước tính Phoberomys to bằng một con linh dương lớn.

Tính toán chính xác kích thước của chuột tiền sử rất khó khăn do thiếu hóa thạch. Trong khi các nhà cổ sinh vật học khai quật xương đùi và nhiều mẩu xương khác của Phoberomys, Josephoartigasia chỉ được biết tới qua một hộp sọ. Không có bằng chứng hóa thạch, giới nghiên cứu thường dựa vào giải phẫu của họ hàng gần nhất còn sống của loài vật đã tuyệt chủng. Tuy nhiên, những đặc điểm như hộp sọ kéo dài của Josephoartigasia và xương đùi to lớn của Phoberomys không có ở chuột hiện đại.

Engelman chuyển qua sử dụng lồi cầu xương chẩm, khớp nối hộp sọ động vật với cột sống. Kích thước khớp này thay đổi rất ít ở tất cả động vật để đảm bảo hộp sọ và cột sống luôn gắn liền với nhau. Vì thế, đây là cơ sở để so sánh những loài vật khác nhau.

Gần đây, Engelman đo độ rộng khớp ở hơn 400 loài động vật có vú, bao gồm chuột và voi châu Phi. Ông phát hiện độ rộng lồi cầu xương chẩm là chỉ báo chính xác về kích thước của chúng. Do độ rộng khớp ở động vật có vú cùng kích thước là tương đương nhau, Engelman có thể so sánh kích thước khớp của chuột tiền sử với động vật có vú khác. Kết quả, ông phải giảm đáng kể ước tính: Phoberomys nặng tối đa dưới 204 kg còn Josephoartigasia nặng khoảng 454 kg, gần với kích thước của ngựa non hơn là bò bison. Engelman cho rằng sự sụt giảm này có thể giúp 2 loài chuột tăng cường phát triển bộ não.

An Khang (Theo New York Times)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn