Mười sáu Chữ Vàng trói đầu việt cọng - Nguyễn Nhơn

Thứ Ba, 04 Tháng Mười Hai 20189:52 CH(Xem: 105)
Mười sáu Chữ Vàng trói đầu việt cọng - Nguyễn Nhơn

                         THANH-DOMười sáu Chữ Vàng trói đầu việt cọng

 

                                                                 " Ổn định lâu dài,

                                                                 hướng tới tương lai,

                                                                 láng giềng hữu nghị,

                                                                   hợp tác toàn diện"

                                                                                      

Dưới đây mới là nguồn gốc của 16 chữ vàng, vòng kim cô trói đầu hậu duệ hồ tinh phản quốc thay vì 4 câu được diễn đạt huê dạng nhẹ nhàng hơn trích dẫn ở trên:

 

                                                                   Sơn thủy tương liên,

                                                                  Lý tưởng tương thông,

                                                                   Văn hóa tương đồng,

                                                                  Vận mệnh tương quan.

 

Sơn thủy tương liên

Núi liền núi, sông liền sông

Oan oan tương báo suốt trường kỳ lịch sử

Dòng sông Hát hai Bà Trưng tự vẫn

Sông Bạch Đằng máu giặc vẫn còn tanh

Ngày nay giặc vẫn còn gieo họa

Nguyên Giang thượng nguồn chệt xã lũ

Châu thổ sông Hồng lũ lụt tứ giăng

Lan Thương giặc tàu ngăn đập chặn nguồn

Cửu Long đồng khô nứt nẻ hết phù sa

Ngày xưa Tô Thị trông vời phương Bắc

Ôm con cô đơn hóa đá Hòn Vọng Phu

Ngày nay máu đổ ngập tràn ngọn Lão Sơn

Thác Bản Giốc phân đôi đâu còn chung cảnh trí

Núi đã hết liền núi, sông liền sông chực chờ gây họa

Chữ tương liên hắc ám đâu phải chữ vàng

 

Lý tưởng tương thông

Ngày nay thế giới thục sự chỉ còn lại hai nước cọng sản Á Châu: trung cọng và việt cọng.

Cuba đã chánh thức xóa bỏ chủ nghĩa cong sản trên hiến pháp.

Triều Tiên đang thoát chệt bắt tay anh em Đại Hàn phương Nam.

Lý tưởng cọng sản thế giới đại đồng vô biên giới.

Thực tế, đồng chí tàu - việt từng phen chém giết nhau:

Mười năm 1979 - 1989 chiến tranh biên giới, máu đồng chí chảy ngập núi đồi Việt Bắc.

Ngày nay lý tưởng ( cọng sản ) chỉ còn tương thông trên đầu môi chót lưỡi.

Thực tế là tên nô tài việt cọng bị tàu phù cột chặt vì lệ thuộc cả Chánh trị - Kinh tế - Xã hội.

 

Văn hóa tương đồng

Thơ Thần Lý Thường Kiệt

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên phận định tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

 

Sông núi nước Nam thì vua nước Nam cai quản

Rõ ràng đã được phân chia tại sách trời

Cớ làm sao bọn giặc ngỗ ngược kia đến đây xâm phạm

Rồi đây chúng bay sẽ thấy và nhận lấy sự thất bại hoàn toàn.

 

Bình Ngô Đại Cáo

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có.

 

Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

 

Nho Việt còn trước nho tàu Khổng tử

Làm cái mẹ rượt gì ta văn hóa tương đồng với chệt?!

Chỉ có bọn cỏ đuôi chó hồ tinh bác cụ ngu si dốt nát mới xum xoe bợ đít chệt khen cứt chệt thơm.

 

Vận mệnh tương quan

Hiện tại, vận mệnh chệt tập và tàu cọng bị cột chặt vào cái gọi là " Nhất Đới - Nhất Lộ " ( One Belt - One Road ).

Diễn nôm cho gọn gàng dễ hiểu: Nó là Vành Đai trên biển và Con Đường Tơ Lụa trên đất liền.

Nghĩa là sáng kiến mở đường từ Biển Đông bung ra Ấn Độ Dương tiến tới Phi Châu - Âu Châu và cả Nam Mỹ.

 

Bọn cỏ đuôi chó Ba Đình theo đuôi hít bả mía bằng cái gọi là " sáng kiến Hai Hành lang - Một Vành đai ".

Nói cho lẹ là mở cả vùng 6 tỉnh biên giới và Điện Biên, kể luôn Hà Nội - Hải Phòng thành một vùng kinh tế phụ trợ cho Một Vành Đai chệt cọng:

Hàng hóa chệt lưu thông cả vùng biên giới, vận chuyển qua 2 hành lang là xa lộ cao tốc Lào Kay - Hà Nội - Hải Phòng và xa lộ Móng Cái Hà Nội xuống cảng Hải Phòng, dán nhản Made in VN để xuất cảng khắp nơi, nhất là Mỹ để trốn thuế cho nhẹ.

 

Vì bọn cẩu trệ hậu duệ già hồ ôm đít chệt đem vận mệnh Dân tộc - Đất nước cột chặt vào giặc tàu như vậy cho nên mai nầy khi Hoa Kỳ và Đồng minh đập tan tham vọng Một Vành đai Một Con đường, chệt cọng tiêu tùng thì việt cọng cũng tiêu vong.

 

                                     Hết vận mạng tương quan!

 

                                               Nguyễn Nhơn

                                           Cuối Thu 2/12/2018

 

Thấm Đòn

 

Kim chích gai đâm chụp lên đầu

hồn các đảng thái thú tàu

Mười anh phúc thọ đồng hồ cáo

Sáu khu linh kiệt mạnh chí sâu

Chữ nghĩa cải biên mưu bí hiểm

Vàng nhôm lọc thải kế thâm sâu

Bốn phía Biển Đông bò liếm lưỡi

Tốt nguồn tốt quặng chệt gồm thâu

 

Bình Dương Nguyễn Thị Ngoan

 

Phụ chú

 

Sông Hồng còn có các tên gọi khác như Hồng Hà (tiếng Trung: 紅河 Honghe), hay sông Cái (người Pháp đã phiên tên gọi này thành Song-Koï). Đoạn chảy trên lãnh thổ Trung Quốc được gọi là Nguyên Giang (元江, bính âm: yuan2 jiang1), đoạn đầu nguồn có tên là Lễ Xã Giang (禮社江). Đoạn từ chảy từ Lào Cai đến "ngã ba Hạc" ở Việt Trì (Phú Thọ) được gọi là sông Thao, đoạn qua Hà Nội còn gọi là Nhĩ Hà hoặc Nhị Hà. Lịch sử Việt còn ghi sông với tên Phú Lương.1 giả thiết sông chảy qua châu tự trị Hồng Hà nên lấy tên Hồng Hà

 

Mekong Gần một nửa chiều dài con sông này chảy trên lãnh thổ Trung Quốc, ở đó đoạn đầu nguồn nó được gọi là Dza Chu trong tiếng Tây Tạng tức Trát Khúc (扎曲;bính âm: Zā Qū), và nói chung được gọi là Lan Thương Giang trong tiếng Hán (瀾滄江; bính âm: Láncāng Jiāng; Wade-Giles: Lan-ts'ang Chiang), có nghĩa là "con sông cuộn sóng". Trát Khúc hợp lưu với một nhánh khác tên là Ngang Khúc (橫曲; bính âm: Áng Qū) ở gần Xương Đô (昌都; bính âm: Chāngdū) tạo ra Lan Thương Giang. Phần lớn đoạn sông này có các hẻm núi sâu, ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc, con sông chỉ còn ở độ cao oảng 500 m so với mực nước biển.

 

Bối cảnh ra đời phương châm

Tháng 11 năm 1991, sau khi Trung Quốc và Việt Nam thực hiện bình thường hoá quan hệ, nhà lãnh đạo cấp cao hai đảng, hai nước liên tiếp đi thăm lẫn nhau, sự giao lưu và hợp tác giữa hai bên trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá ngày càng mở rộng và sâu sắc.

Do đặc thù địa lý tự nhiên, con người, chế độ xã hội và vận mệnh sống còn của hai đảng cầm quyền của hai nước hết sức gần gủi, gắn bó:

Sơn thủy tương liên,Lý tưởng tương thông,Văn hóa tương đồng,Vận mệnh tương quan.

Khởi tạo phương châm

Đầu năm 1999, Tổng bí thư Giang Trạch Dân đã đề ra và Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã đồng ý phương châm 16 chữ "Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện" đã xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, đánh dấu quan hệ Trung Việt đã bước vào giai đoạn phát triển mới được lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước xác định trong Tuyên bố chung, từ tháng 2/1999.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn