Những lợi ích ít ai biết của rau càng cua

Chủ Nhật, 19 Tháng Mười Hai 202111:00 SA(Xem: 1019)
Những lợi ích ít ai biết của rau càng cua

Rau càng cua có thể bắt gặp ở nhiều nơi như trong rừng, mương, vách đá,... thích nghi tốt với môi trường nhiệt đới, cho nên có thể gặp chúng ở bất cứ quốc gia nhiệt đới nào. Rau càng cua có thể được chế biến thành nhiều món ăn khác nhau, do đó chúng rất phổ biến. Tuy nhiên, ít ai để ý đến giá trị dinh dưỡng và tác dụng của rau càng cua là gì đối với sức khỏe.

Rau càng cua có tên gọi khoa học là Peperomia Pellucida. Về mặt thực vật học, cây thuộc họ Piperaceae (hồ tiêu) bao gồm khoảng 5 chi và 1.400 loài. Chi Peperomia đại diện cho gần như một nửa họ Piperaceae. P . Pellucida. Rau có thể phát triển tới chiều cao khoảng từ 15cm đến 45 cm, lá màu xanh nhạt bóng, mọng nước, hình trái tim. Loài này phát triển vào mùa mưa (thường vào mùa xuân) và phát triển mạnh trong đất tơi xốp, ẩm ướt dưới bóng cây.

Rau càng cua phát triển mạnh vào mùa mưa.
Rau càng cua phát triển mạnh vào mùa mưa.

Rau càng cua là một loại thực phẩm nhưng thường được biết đến như một loại thảo mộc có công dụng sử dụng làm thuốc. Dữ liệu dân tộc học ở Bolivia từ người da đỏ Altenos ghi lại toàn bộ cây được nghiền nát, sau đó trộn với nước và đun nóng. Hỗn hợp này có tác dụng làm ngưng xuất huyết. Một số tài liệu khác tương tự cũng cho rằng, nước sắc rễ để điều trị cảm sốt và các bộ phận còn lại dùng để bôi tại chỗ điều trị đau bụng, áp xe, mụn trứng cá, nhọt, đau bụng, mệt mỏi, bệnh gút, đau đầu, rối loạn thận và đau thấp khớp và thậm chí để điều trị ung thư vú.

Các đặc tính dược liệu có thể khác nhau ở các khu vực địa lý khác nhau. Ở đông bắc Brazil, cây được sử dụng để làm giảm cholesterol. Ở Guyana rau đã được sử dụng làm thuốc lợi tiểu và điều trị protein niệu. Ở vùng Amazon rau được dùng làm thuốc giảm ho, thuốc lợi tiểu, chất làm mềm và điều trị rối loạn nhịp tim. Còn theo đông y, cây có vị đắng tính bình, có công dụng thanh nhiệt giải độc, khu phong, hoạt huyết, tan máu ứ thường dùng để chữa các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, viêm ruột thừa, một số bệnh đường tiêu hoá.

Một nghiên cứu về hoá học, chủ yếu là nghiên cứu tinh dầu của cây đã xác định được 71 hợp chất từ tinh dầu của 10 loại Piperaceae. Trong rau càng cua có Carotol (13,41%) là sesquiterpene hydroxyl hoá chính. Một số hoạt chất khác như arylpropanoids có tác dụng chống nấm và peperomin có hoạt tính gây độc tế bào hoặc chống ung thư trong ống nghiệm. Thành phần dinh dưỡng chúng ta sẽ được hấp thụ khi ăn rau càng cua là 24 calo, nước (92%), vitamin và khoáng chất (8%). Khi ăn rau càng cua có thể gây ra các triệu chứng giống như bệnh hen suyễn ở những bệnh nhân có phản ứng quá mẫn với loại cây này bởi chúng có mùi giống mù tạt.

Một số trường hợp khi ăn rau càng cua sẽ có biểu hiện khó thở như bệnh hen suyễn.
Một số trường hợp khi ăn rau càng cua sẽ có biểu hiện khó thở như bệnh hen suyễn.

Một vài tác dụng nổi bật của rau càng cua mang lại gồm:

  • Tác dụng giải khát: do phần lớn thành phần của rau là nước và rau càng cua có tính bình nên loại rau này là lựa chọn tuyệt vời để giải nhiệt.
  • Tác dụng giảm đau/ chống viêm: Một nghiên cứu báo cáo rằng, hoạt động chống viêm của rau càng cua có thể khác nhau tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển khác nhau của cây. Tác dụng chống viêm lớn hơn đã được ghi nhận với cây ở trong giai đoạn sinh dưỡng và bắt đầu nở hoa hoặc suốt mùa đông và mùa xuân. Các thử nghiệm trên chuột đã cho thấy khả năng giảm đau của rau càng cua bằng thử nghiệm quặn bụng sử dụng axit axetic hoặc bằng thử nghiệm trên đĩa nóng. Khả năng ức chế cơn đau từ 50% đến 78%. Sự khác nhau có thể là các chất chiết xuất, điều kiện khí hậu và nguồn gốc thực vật khác nhau. Do đó, ăn rau càng cua thường dùng trong điều trị sốt, ho, cảm lạnh đau đầu và viêm khớp.
  • Tác dụng kháng khuẩn: Chiết xuất methanolic thô có trong rau càng cua có hoạt tính kháng khuẩn phổ rộng. Toàn bộ chiết xuất từ rau càng cua đã ức chế sự phát triển của chủng Plasmodium falciparum Indo kháng chloroquine 95% trong ống nghiệm ở 100 mg / mL và sốt rét Plasmodium vinckei petteri là 78% trong cơ thể ở 1.000 mg / kg. Các dẫn xuất monoterpenoid từ loài thực vật Peperomia galioides có hoạt tính độc đối với các dạng promastigote của Leishmania braziliensis, Leishmania donovani và Leishmania amazonensis ở nồng độ 25 mcg / mL và gây ra sự ly giải toàn bộ ký sinh trùng ở 100mcg/ mL.
  • Tác dụng chống ung thư: Chiết xuất các chất có trong rau càng cua có tác dụng ức chế chống lại sự phát triển của một số tế bào ung thư. Điều này cho thấy rau càng cua có thể là một loại thực phẩm bổ sung tiềm năng cho việc điều trị ung thư.
  • Tác dụng chống oxy hóa: Trong một nghiên cứu được thực hiện trên chiết xuất của rau càng cua đã chỉ ra rằng, cây có hoạt tính thu gom mạnh mẽ chống lại các gốc tự do cho thấy rằng pansit-pansitan là một chất chống oxy hóa tự nhiên tốt.
  • Tác dụng giảm axit uric máu: Một nghiên cứu được thực hiện trên chuột cho thấy nồng độ axit uric trong máu giảm 44% trong khi những con chuột sử dụng thuốc allopurinol cho mức độ giảm axit uric là 66%. Kết quả này cho thấy rau càng cua có thể chứa các hợp chất có thể sử dụng thay thế cho allopurinol để kiểm soát nồng độ axit uric trong máu.
  • Hoạt tính trầm cảm: Trong một nghiên cứu trên chuột ở Bangladesh, sau khi chuột được gây hưng phấn bằng nikethamide và được tiêm chất chiết xuất từ cây càng cua cho thấy, chiết suất có hoạt tính trầm cảm. Tuy nhiên phụ thuộc vào liều lượng, do đó có thể sử dụng để điều trị hưng phấn quá mức.
  • Chất dinh dưỡng bổ dưỡng: Các khoáng chất có trong rau như kali, magie tốt cho tim mạch và huyết áp.

Ăn rau càng cua không có tác dụng phụ được báo cáo cho hầu hết mọi người. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu chứng tỏ sự an toàn sử dụng cho phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú hoặc trẻ sơ sinh. Vì thế, bạn hãy cẩn trọng trước khi sử dụng rau càng cua vào bất cứ mục đích gì.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn