Iran đang mắc kẹt trong chính chiến lược của mình. Chế độ giáo sĩ tiếp tục phóng hỏa tiễn sang các láng giềng, phong tỏa eo biển Hormuz và viện dẫn mối đe dọa từ bên ngoài để duy trì quyền lực, trong khi chiến tranh và trừng phạt đẩy nền kinh tế đến bờ vực thẳm. Điều trớ trêu là Hormuz - vũ khí chiến lược cuối cùng của Teheran - có thể mất dần giá trị khi các nước trong khu vực tìm cách thoát khỏi sự lệ thuộc vào eo biển.
Chế độ giáo sĩ chống lại chính người Ba Tư
Xã luận của Le Point nói về « Chính thể giáo sĩ chống lại người Ba Tư ». Khi bắn hỏa tiễn vào các láng giềng và phong tỏa eo biển Hormuz, Iran càng bóp nghẹt thêm người dân. Việc lao đầu vào những xung đột với bên ngoài là chính sách đối nội duy nhất của Teheran, theo tuần báo, như một chiêu trò để duy trì quyền lực trong nước.
Hôm thứ ba 18/08, cư dân Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất được lệnh tìm nơi trú ẩn, vì hai hỏa tiễn đạn đạo do chế độ Hồi giáo Iran phóng đi đang lao đến vùng biển nước này, trong đó có một rơi vào lãnh hải. Hôm sau, Abou Dhabi ngưng mọi hoạt động thương mại, giao dịch tài chánh với Teheran. Gọng kềm xung quanh Cộng hòa Hồi giáo Iran như vậy đã siết chặt thêm, một trong những đối tác kinh tế chủ chốt cuối cùng trong khu vực đã nói lời từ biệt. Như thường lệ từ 47 năm qua, chế độ giáo sĩ chối bay chối biến, không phải họ mà là Đại Satan (Mỹ) và Tiểu Satan (Israel).
Le Point cho rằng cần nhìn nhận đúng bản chất : Đó không phải là sự tấn công của một cường quốc tự tin, mà là hành động tuyệt vọng của một chế độ đang trên bờ vực sụp đổ. Phóng hỏa tiễn vào các nước lân cận, quấy nhiễu những tàu dầu ở eo biển Hormuz, gây rối loạn khu vực, là ngôn ngữ duy nhất mà Teheran biết được. Nhưng Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo lạm phát năm nay ở Iran lên đến gần 70 %, suy thoái hơn 5 %. Đồng rial hàng tuần đều phá kỷ lục mất giá, nuốt chửng tiền lương, tiền tiết kiệm và hy vọng của hàng triệu gia đình. Các hải cảng bị phong tỏa, nền kinh tế bị bóp nghẹt vì trừng phạt, và cuộc chiến mà chính chế độ đã làm cho không thể tránh khỏi.
Tại các thành phố Iran, giá bánh mì, thuốc men, xăng dầu mỗi ngày đè nặng lên một dân tộc muốn tìm lại tự do. Nhưng các giáo sĩ dồn mọi nỗ lực cho chiến tranh. Vì sao ? Kể từ năm 1979, mỗi khi các cuộc biểu tình nổ ra, mỗi khi đường phố rung chuyển, chế độ lại nêu ra cái cớ về các thế lực thù địch - chủ nghĩa phục quốc Do Thái, hoặc sự xâm lược của Mỹ. Chiến tranh ở bên ngoài chỉ là vỏ bọc cho cuộc chiến mà họ luôn tiến hành chống lại chính người dân của mình.
Đao phủ của người Ba Tư không phải ở Washington, Tel-Aviv hay Abou Dhabi, mà chính là chế độ đã bỏ đói người dân để vũ trang cho dân quân, thay vì lắng nghe người dân, đã treo cổ họ. Một chế độ cầm tù dân chúng bằng hệ tư tưởng. Những hỏa tiễn rơi xuống ngoài khơi Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất là biểu hiện cho sự suy tàn của chế độ giáo sĩ, và một khi chiến tranh còn kéo dài thì chính người dân Iran phải trả giá.
Eo biển Hormuz : Lá bài chủ chốt có thể phản tác dụng
Courrier International dịch bài viết của The Guardian, đặt vấn đề « Nếu việc phong tỏa eo biển Hormuz phản tác dụng với Iran ? ». Teheran coi eo biển này là « trụ cột trật tự an ninh mới của Iran ». Nhưng thế mạnh này phải chăng sẽ giảm dần, Iran càng khó khăn hơn trước đợt trừng phạt mới của Hoa Kỳ ? Chủ đề này đang được tranh luận tại Teheran. Phân tích của nhà kinh tế Hamid Paktinat dự báo việc xây dựng các đường ống mới và những con đường xuất khẩu khác sẽ làm giảm phân nửa giá trị chiến lược của eo biển Hormuz trong ba năm tới.
Chủ tịch Quốc Hội Mohammad Ghalibaf khẳng định dù quân đội mạnh, nhưng nếu người dân bị đói và kinh tế xuống dốc thì khó thể trụ được. Tổng thống Masoud Pezeshkian nói thẳng : « Chiến tranh phải chấm dứt ». Thống đốc Ngân hàng Trung ương Abdolnaser Hemmati cảnh báo những thách thức : trừng phạt tối đa, phong tỏa, không xuất được dầu, mất thăng bằng ngân sách. Nhà báo Hamid Asefi ở Teheran đánh giá nếu mỗi lúc đều đem Hormuz ra dọa, lá bài này sẽ mất dần giá trị.
Theo dữ liệu của Kpler, gần 79 % tàu dầu đã di chuyển theo những con đường khác, 19 % đi theo khuyến cáo của Iran và 2 % theo con đường của Oman. Hamid Paktinat đánh giá trong vòng một đến bốn năm nữa, sự lệ thuộc của Ả Rập Xê Út vào eo biển Hormuz từ 70 % xuống còn 15 %, Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất từ 50 % còn 15 %...Oman sẽ trở thành trung tâm vận chuyển dầu trong khu vực. Bóp nghẹt dần kinh tế Iran là giải pháp khả dĩ của chính quyền Trump.
Chiến tranh Ukraina chưa kết thúc, nhưng Putin đã thua
Xã luận của L’Express nhận định « Ukraina : Putin đã thua ». Kiev vừa kỷ niệm 35 năm độc lập, sau bốn năm rưỡi chiến tranh vẫn tiếp tục đương cự lại kẻ xâm lăng. Cách đây 35 năm, quốc gia Ukraina chưa được khai sinh, và dân tộc này đã giành lại độc lập cũng như quyền tự do định đoạt tương lai của chính mình. Giờ đây Nga cố gắng tước đoạt quyền này, nhưng chỉ làm Ukraina mạnh thêm : một Nhà nước châu Âu hiện đại, sáng tạo và giỏi công nghệ. « Ukraina tự khẳng định như một trong những cột trụ thiết yếu của cấu trúc châu Âu mới. Putin đã thất bại, và toàn thế giới đều hiểu điều này, chỉ trừ Putin ». Phát biểu của ông Vadym Omelchenko, đại sứ Ukraina tại Pháp trong dịp quốc khánh 24/08 tràn đầy hy vọng.
Oanh tạc, chiếm đóng, thảm sát, Ukraina luôn đứng vững. Ngày 21/08, sự bỉ ổi của Nga còn vượt qua một ngưỡng mới khi tấn công liên tiếp vào Kryvyi Rig, thành phố quê hương của tổng thống Zelensky, làm ít nhất 16 người thiệt mạng và 130 người bị thương. Người Ukraina chôn cất các nạn nhân và quyết tâm của họ khiến người ta phải ngưỡng mộ, L’Express cũng cho rằng Putin đã bại trận trong cuộc chiến này, dù lời kêu gọi trợ giúp của Volodymyr Zelensky vẫn thường rơi vào khoảng không.
Liên minh các quốc gia tình nguyện với sự ủng hộ kiên định của Emmanuel Macron tiếp tục giúp đỡ Kiev, nhưng thời gian rất gấp rút và nguồn lực còn thiếu. Do không có hỏa tiễn đánh chặn, Ukraina chịu đựng trận chiến trên không do Matxcơva áp đặt, tháng Bảy năm nay là đẫm máu nhất đối với thường dân kể từ đầu cuộc xâm lăng. Quân đội Ukraina đang rất thiếu người. Cuộc chiến đã kéo dài đến 1.645 ngày, dài hơn cả Đệ nhất Thế chiến hay « Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại ».
Thibault Fouillet, Trung tâm Phân tích và Dự báo Nguy cơ Quốc tế nhận xét : « Quyết tâm của dân tộc Ukraina không có gì lay chuyển nổi, họ tạo thành một mặt trận đoàn kết, không chấp nhận đầu hàng. Bài toán nan giải là nhân lực ». Với 125.000 tử trận và gần nửa triệu quân nhân bị thương, số thương vong của Ukraina thấp hơn Nga nhiều, nhưng cần động viên nhiều hơn nữa để khắc sâu thất bại của Putin vào vùng đất đen phì nhiêu của xứ sở này.
Đưa khinh khí cầu vào cuộc chiến drone, Kiev gây khó cho Matxcơva
Cũng về Ukraina, The Economist chú ý đến một cách đánh mới : Các khinh khí cầu được dùng để chuyên chở drone có thể gây khó cho Nga. Khinh khí cầu đã được đưa vào sử dụng trong chiến tranh tại châu Âu ngay sau khi được phát minh tại Pháp vào năm 1783. Gần đây, Trung Quốc đã sử dụng khinh khí cầu để do thám Đài Loan, còn Israel dùng để giám sát Liban, còn Ukraina đã sử dụng ngay từ khi bắt đầu cuộc chiến với Nga. Vào tháng Năm, có thông tin cho biết nước này đã thả hơn 1.000 khinh khí cầu vào lãnh thổ Nga kể từ mùa thu năm ngoái. Chúng có thể thả bom, đánh lạc hướng hệ thống phòng không và đóng vai trò trạm chuyển tiếp tín hiệu vô tuyến, truyền mệnh lệnh đến các drone.
Gần đây, Ukraina đã thử nghiệm việc sử dụng khinh khí cầu trực tiếp mang theo drone, nhờ đó mở rộng tầm hoạt động. Nếu thuận gió, khí cầu có thể vừa đưa drone đến gần mục tiêu, vừa phóng từ độ cao lên tới 18 kilomet cho phép thiết bị bay lượn thêm một quãng đường dài nữa. Có vẻ như Ukraina đã phát triển « dịch vụ vận chuyển » này từ hơn một năm qua. Các chiến binh Ukraina được cho là đã sử dụng khinh khí cầu để mang theo drone Hornet (do Mỹ sản xuất) vượt quãng đường khoảng 42 kilomet trước khi thả xuống ở độ cao 8 kilomet.
Chiếc Hornet chỉ tiêu tốn 5 % dung lượng pin khi khí cầu di chuyển, nhờ đó vẫn giữ được đầy đủ năng lượng cho nhiệm vụ chính. Tầm hoạt động của Hornet khi phóng từ mặt đất là khoảng 150 km, việc sử dụng khinh khí cầu giúp tăng gấp đôi khoảng cách này. Phía Nga cũng đang thử nghiệm sử dụng khinh khí cầu, nhưng lại gặp bất lợi do hướng gió. Đối với Ukraina, đây là cơ hội mở ra những khả năng vô hạn còn với Nga, đó lại là một đòn giáng mạnh.
Hoài bão « Hiệp chủng quốc châu Âu » của Churchill được khơi dậy
Ở tầm châu lục, L’Express nói về « Hiệp chủng quốc châu Âu : Giấc mơ của Churchill ». Tám mươi năm sau, Liên Hiệp Châu Âu có thể tìm nguồn cảm hứng từ tư tưởng của ông. Cách đây đúng tám thập niên, nhà lãnh đạo nổi tiếng của Anh đã đề ra lộ trình để biến châu lục bị tàn phá sau cuộc chiến với Adolf Hitler thành một mảnh đất phồn vinh : lập nên « Hiệp chủng quốc châu Âu ». Khi phát biểu ngày 19/09/1946 tại Zurich, Winston Churchill không còn là thủ tướng, chỉ dựa vào uy tín của mình. Ông coi việc tập hợp lại châu Âu là phương cách duy nhất để tránh lặp lại thảm họa.
Churchill kêu gọi nước Đức bại trận và nước Pháp đang ngồi chung bàn với những người thắng trận nên có những bước đầu hòa giải. Ông khuyến cáo thành lập một « cấu trúc khu vực » mang tên Hội đồng Châu Âu, dự báo nếu châu Âu đồng thuận, sẽ có được « hạnh phúc, thịnh vượng và vinh quang » vô bờ bến. Nhà ngoại giao Mỹ George Kennan giải thích năm 1948 : « Không có một liên bang châu Âu thực sự, hoặc Đức lại mạnh mẽ, độc lập và mưu toan thống trị một lần nữa ; hoặc nếu không Nga sẽ khống chế châu lục ».
Hoài bão của Churchill đã phần nào thành sự thật. Bốn năm sau bài diễn văn ở Zurich, Pháp đề nghị với Đức thành lập Cộng đồng than thép – viên đá đầu tiên để hình thành Liên Hiệp Châu Âu. Kỷ nguyên hòa bình kéo dài, châu Âu dựa vào quyền lực mềm để gây ảnh hưởng trên thế giới. Nhưng khi quyền lực cứng và độc tài quay lại, tham vọng biến dân chủ châu Âu trở thành chuẩn mực bị vấp phải ý định của Putin - tái lập kiểm soát các nước thuộc Liên Xô cũ, và Trung Quốc cộng sản - đối đầu với một nước Mỹ của Donald Trump chối từ vai trò người bảo vệ. Bản thân sự hiện hữu của Liên Hiệp Châu Âu cũng bị đe dọa, hơn nữa phong trào dân túy lại dấy lên.
Trước các thách thức này, các nhà lãnh đạo châu Âu có hai điều cần học hỏi từ Churchill. Thứ nhất, xúc tiến lợi ích của châu Âu cũng là bảo vệ quốc gia, và thứ nhì, châu Âu cần đoàn kết để hiện hữu. « Châu Âu, hãy trỗi dậy ! », bài diễn văn Zurich đã kết thúc bằng câu này. Vấn đề là tìm được một Churchill của thế kỷ 21.
L’Express cũng giải thích « Matxcơva mưu toan tái lập mạng lưới ở châu Âu như thế nào ». Bốn năm rưỡi sau khi đưa quân sang xâm chiếm Ukraina và cựu lục địa đã trục xuất một số điệp viên núp bóng ngoại giao, mạng lưới tình báo Nga dù yếu đi cũng đang tích cực hoạt động.
Bắc Triều Tiên : Những bóng hồng quyền lực thời Kim Jong Un
Liên quan đến châu Á, L’Express nhận xét « Với Kim Jong Un, các ‘bóng hồng’ Bắc Triều Tiên gia tăng quyền lực ». Ngược với cha, nhà lãnh đạo của chế độ cộng sản không ngần ngại đưa những người phụ nữ thân cận ra ánh sáng, trước hết là cô con gái có thể kế vị ông. Cô bé 13 tuổi Kim Ju Ae tháp tùng cha trong hầu hết các cuộc « thanh tra » cơ sở quốc phòng. Các nhà quan sát và cả tinh báo Hàn Quốc cũng tin rằng cô sẽ là người nối nghiệp.
Theo lời kể của những người mới đào thoát khỏi chế độ Bắc Triều Tiên, ngày càng nhiều phụ nữ được giữ những chức vụ cao kể từ khi Kim Jong Un lên cầm quyền năm 2011. Nhà lãnh đạo trẻ giáng chức hoặc sa thải nhanh chóng những cán bộ không đạt kết quả, và việc này có lợi cho giới nữ. Nhiều người trở thành thẩm phán, nhân viên an ninh, cảnh sát, sĩ quan quân đội, các nữ cầu thủ giành giải Cúp liên đoàn bóng đá nữ châu Á được đón tiếp như người hùng.
Ở đỉnh cao quyền lực, Choe Son Hui, con gái nuôi của một cựu thủ tướng từng là phiên dịch cho Kim Jong Un trở thành ngoại trưởng. Hyon Song Wol, cựu ca sĩ từng có quan hệ với Kim Jong Un trong thập niên 2000 được bổ nhiệm làm phó giám đốc cơ quan tuyên truyền. Nhưng kịch tính nhát là những thay đổi trong gia đình. Kim Jong Il chưa bao giờ công khai xuất hiện với vợ, nhưng Kim Jong Un không ngần ngại đi cùng người vợ Ri Sol Ju ăn mặc sang trọng kiểu phương Tây trước công chúng. Cô em Kim Yo Yong cũng đầy quyền lực. Nhưng việc lăng-xê cô con gái không được nhiều người ưa thích. Ri Il Gyu, nhà ngoại giao Bắc Triều Tiên đào thoát năm 2024 cho biết « Ý tưởng con cái tôi phải phủ phục trước cô bé đó khiến tôi không chịu đựng được ».
Nước Mỹ khép cửa với người nhập cư : Lợi bất cập hại
« Nước Mỹ : Quốc gia không chào đón người nhập cư », đó là chủ đề của The Economist. Theo tuần báo Anh, chính sách di dân khiến nước Mỹ của Donald Trump trở nên suy yếu hơn. Trước hết, cần ghi nhận nỗ lực của Trump. Ông đã cam kết khôi phục trật tự tại biên giới và đã thực hiện được điều đó. Thành công này lẽ ra có thể trở thành nền tảng để xây dựng một chính sách nhập cư hợp lý. Có hai câu hỏi cần được giải quyết. Chính phủ nên làm gì với những người hiện đang ở Mỹ bất hợp pháp ? Và Mỹ nên chào đón ai trong tương lai ? Ông Trump đã đưa ra một câu trả lời thô bạo cho câu hỏi đầu tiên, và giải pháp làm hại cho chính nước Mỹ đối với câu hỏi thứ hai.
AI : Khi con người nuôi một « con sói »
Về tương lai của trí thông minh nhân tạo (AI), The Economist dùng một cách khá độc đáo, đó là so sánh với loài chó. Từ hàng ngàn năm trước, con người đã thuần hóa chó sói và nhờ đó có thêm khả năng phát hiện kẻ thù, săn bắn và chiến đấu. Một số nhà nhân chủng học cho rằng chó thậm chí góp phần giúp Homo sapiens vượt qua người Neanderthal. Ban đầu, việc đưa sói vào hang chắc chắn không hoàn toàn an toàn ; con người phải huấn luyện chúng để chúng không… ăn thịt trẻ con. Nhưng cuối cùng, mối quan hệ này nhìn chung đã trở thành có lợi cho cả hai.
Kịch bản lạc quan về AI cũng tương tự : AI bổ sung chứ không thay thế con người, giúp lao động hiệu quả hơn và vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Vấn đề là AI tiến hóa nhanh hơn chó rất nhiều và có thể tự tạo ra những phiên bản ngày càng mạnh. Nếu chó năm 2030 vẫn không biết mở hộp đồ ăn, thì không thể chắc AI tương lai sẽ ngoan ngoãn như vậy.
Hai cuốn sách mới được The Economist phân tích đưa ra hai cách nhìn khác nhau. Nhà sử học Jill Lepore đặc biệt nghi ngờ những người đang « huấn luyện » AI : các ông trùm công nghệ. Bà lập luận rằng họ có tham vọng xây dựng một tương lai trong đó AI của họ sẽ cai trị và thay thế con người, đe dọa cả dân chủ lẫn môi trường. Tuy nhiên, The Economist cho là Lepore quá nhấn mạnh vai trò của từng tỉ phú. Tương lai AI sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào bản thân công nghệ và cách xã hội sử dụng nó.
Nhà kinh tế Daron Acemoglu lo ngại AI tạo ra thất nghiệp hàng loạt. Giải pháp là dùng AI để nâng cao năng lực con người thay vì loại họ ra ngoài. Chẳng hạn, AI có thể giúp thợ điện xử lý hệ thống điện phức tạp hoặc hỗ trợ giáo viên phân tích kết quả học tập để cá nhân hóa việc dạy. The Economist cho rằng ý tưởng này hợp lý nhưng vẫn chưa trả lời được câu hỏi khó nhất : Làm thế nào để thực hiện ? Cả hai cuốn sách đều cho thấy khó thể dự đoán về một công nghệ đang thay đổi quá nhanh.