Đồi Thông Hai Mộ Và Câu Chuyện Tình

Chủ Nhật, 01 Tháng Tám 20214:00 CH(Xem: 533)
Đồi Thông Hai Mộ Và Câu Chuyện Tình
Chuyện kể cách đây gần 60 năm về trước, có chàng trai Vũ Minh Tâm lên Đà Lạt học tập. Chàng trai này là con trai độc nhất của một trong những điền chủ giàu có nhất ở đất xứ Gò Công, Tiền Giang.
Đồi thông hai mộ, một thắng cảnh nổi tiếng của Đà Lạt, bao năm nay luôn tồn tại nhiều sự tích ly kỳ về cái tên “Đồi thông hai mộ”, nhưng chỉ có một câu chuyện trong số đó là thật, ấy là câu chuyện tình bất hạnh của cô gái Lê Thị Thảo và chàng trai Vũ Minh Tâm, mà minh chứng cho câu chuyện tình đó chính là hai ngôi mộ nằm trên đồi thông 60 năm qua.

Một chuyện tình bi thương trên cao nguyên

Từ lâu lắm rồi, Đà Lạt luôn được gọi là xứ sở của tình yêu, là nơi hò hẹn lãng mạn cho những đôi tình nhân. Những thung lũng tình yêu, thác Cam Ly, hồ Than Thở… là những địa danh mà dù chưa từng đặt chân lên Đà Lạt, hẳn ai cũng nghe tên ít nhất một lần.

Ngay bên cạnh hồ Than Thở của Đà Lạt là một đồi thông ngút ngàn có tên gọi Đồi thông hai mộ. Trong festival Đà Lạt, Đồi thông hai mộ cũng là một địa danh mà nhiều du khách ghé qua.

Đồi thông hai mộ trở nên nổi tiếng vì rừng thông bạt ngàn và vì câu chuyện tình bi ai, cảm động của một đôi trai gái mà câu chuyện tình của họ đã trở thành sự tích của cái tên Đồi thông hai mộ.

Chuyện kể cách đây gần 60 năm về trước, có chàng trai Vũ Minh Tâm lên Đà Lạt học tập. Chàng trai này là con trai độc nhất của một trong những điền chủ giàu có nhất ở đất xứ Gò Công, Tiền Giang. Gia đình chàng có cả nghìn mẫu ruộng khắp các tỉnh miền Tây, có cả biệt thự ở Sài Gòn, ở Đà Lạt.

Doi-Thong-Hai-Mo
Ngôi mộ của Vũ Minh Tâm và người yêu Lê Thị Thảo

Nhưng là con trai độc nhất cũng khiến chàng mang nhiều gánh gặng. Khi vừa tròn 18 tuổi, Vũ Minh Tâm đã bị ba má yêu cầu lấy vợ để có con thờ tự. Ba má ngắm cho chàng một cô gái là con gái một điền chủ vùng bên, gia đình môn đăng hộ đối.

Nhưng vì chưa muốn ràng buộc hôn nhân khi còn quá trẻ, lại không có nhiều cảm tình với người được ba má hỏi cho, Vũ Minh Tâm đã lén trốn ba má lên Đà Lạt học để tránh né cuộc hôn nhân sắp đặt.

Xứ Đà Lạt thơ mộng đã chứng kiến câu chuyện tình yêu trắc trở của chàng công tử nhà giàu Vũ Minh Tâm với cô sinh viên Lê Thị Thảo. Lê Thị Thảo là sinh viên Văn khoa ở Đà Lạt. Trong một lần đi dạo bên bờ hồ Sương Mai (nay là hồ Than Thở), duyên trời đã khiến cả hai gặp nhau.

Xúc động trước nhan sắc mong manh và tính tình dịu dàng của nữ sinh viên Văn khoa, chàng công tử xứ Gò Công đã đem lòng nhớ nhung bóng hình đó. Kể từ ngày ấy, cả hai thường hẹn nhau cùng đi dạo quanh hồ Sương Mai, và cũng chính hồ Sương Mai này là nơi chứng kiến lời thề hẹn trăm năm của đôi trai tài gái sắc.

Quãng thời gian là sinh viên tuổi mười tám, đôi mươi, cả hai là đôi tình nhân đẹp trong mắt các sinh viên cùng khóa. Nhưng rồi thời sinh viên cũng hết. Lê Thị Thảo tốt nghiệp, trở thành cô giáo dạy văn ở thành phố Đà Lạt, còn Vũ Minh Tâm cũng về quê, chăm sóc ba mẹ già, làm tròn nhiệm vụ của đứa con độc nhất.


Ngày chia tay, Vũ Minh Tâm có hứa với người yêu, sẽ xin ba mẹ sắm trầu cau lên hỏi cưới Thảo. Nhưng lời hứa đó không thành. Ba má Vũ Minh Tâm chê Thảo chỉ là con gái một gia đình công chức nghèo, không môn đăng hộ đối nên nhất nhất ép con trai cưới cô gái mà họ đã chọn năm nào, dù cho Vũ Minh Tâm hết lòng cầu xin.

Không thể cãi lời ba má, nhưng cũng không thể phụ tình người yêu ở Đà Lạt, Vũ Minh Tâm đã làm đơn xin đi lính. Trước khi đi, chàng công tử xứ Gò Công có gửi cho người yêu một bức thư, dặn dò cô đợi chờ mà cố tình giấu chuyện gia đình ngăn cản.

Tin tưởng vào lời ước hẹn tình yêu, năm này qua năm khác, cô giáo dạy văn Lê Thị Thảo chung thủy chờ đợi mối tình đầu, dẫu cho bao chàng trai theo đuổi cũng mặc. Những lúc nhớ người yêu ở chiến trường, Thảo thường đi dạo quanh bờ hồ Sương Mai, đi dạo quanh đồi thông ven hồ, nơi cô và người yêu có biết bao là kỷ niệm.

Nỗi bất hạnh của đôi tình nhân

Nhưng tình yêu của Lê Thị Thảo và Vũ Minh Tâm đã gặp vô vàn những sóng gió. Biết con trai còn nặng tình với cô gái nghèo xứ Đà Lạt, ba má chàng trai đã cho người lên Đà Lạt, nói rõ việc gia đình họ không chấp nhận một cô con dâu không tương xứng.

Vài tháng sau, sợ điều đó không chia rẽ được tình cảm của đôi trai gái, gia đình Tâm đã gửi tin báo Tâm đã tử trận ở chiến trường. Chưa hết đau khổ vì không được gia đình người yêu chấp nhận, lại nghe tin người yêu đã tử trận, ngày ngày, cô giáo Lê Thị Thảo thường lên đồi thông ngồi khóc.

Nghĩ rằng sống không có được nhau, thì chết sẽ nhất định thuộc về nhau, Thảo đã quyên sinh trên đồi thông để trọn vẹn mối tình với chàng công tử Gò Công. Cái chết của cô giáo dạy văn hiền lành đã khiến người dân Đà Lạt vô cùng thương xót. Gia đình biết câu chuyện tình ngang trái của Thảo, đã chôn Thảo trên đồi thông ven hồ.

Nửa năm sau, Tâm trở về tìm Thảo. Hóa ra cái tin Tâm tử trận chỉ là tin giả. Sau khi hết nghĩa vụ quân sự Sau khi giải ngũ, chàng về Đà Lạt tìm người yêu sau bao tháng bặt tin thì nghe tin sét đánh. Gia đình Thảo đưa Tâm lên ngôi mộ của Thảo trên đồi thông.

Chàng trai chung tình đã khóc hết nước mắt bên nấm mồ người yêu nay đã xanh cỏ. Sau mấy ngày khóc vật vã quên ngủ, quên ăn, vừa nhớ thương người yêu, và trách giận gia đình, Tâm đã không quay về Gò Công mà trở lại chiến trường lửa đạn.

Một thời gian sau, Tâm ngã xuống giữa chiến trường. Trong những kỷ vật của Tâm còn lại, có những dòng nhật ký về Thảo, về câu chuyện tình bi thương của chàng trai chung tình.

Tâm có viết một dòng trong nhật ký, như lời di chúc, dặn nếu tử trận, Tâm mong được đưa về chôn cất bên cạnh mộ người yêu, trên đồi thông.

Thương xót mối tình của đôi trai gái bất hạnh, người ta đưa Tâm về, cất một ngôi mộ cho Tâm ngay bên cạnh mộ Thảo. Gia đình Thảo vẫn qua lại hương khói cho cả hai ngôi mộ. Người dân quanh vùng biết chuyện, cũng thường đến thắp hương ở đây.

Kể từ đó, đồi thông mang tên gọi mới “Đồi thông hai mộ”. Nhiều cặp tình nhân tin rằng, nếu gặp trắc trở trong tình duyên, chỉ cần đến thắp hương lên hai ngôi mộ này, người đã khuất sẽ phù hộ cho họ vượt qua trắc trở. Nhưng bất hạnh thay, Thảo và Tâm sau khi chết vẫn bị chia rẽ.

Nhiều năm sau khi Tâm đã mồ yên mả đẹp bên cạnh người yêu, không hiểu vì lý do gì, gia đình Tâm đã lên Đà Lạt, đưa mộ chàng về Gò Công, Tiền Giang, quyết chia lìa đôi trai gái bất hạnh, bất kể nguyện vọng của chàng trai lúc còn sống.

Thảo và Tâm lại một lần nữa chia ly. Sau này khi ngôi mộ của cô giáo Thảo đã đổ nát, gia đình cũng ly tán, có người xót thương cho đôi tình nhân trẻ đã xây lại ngôi mộ của Thảo và không quên xây ngôi mộ của Tâm ngay bên cạnh.

Khách đến Đà Lạt giờ ghé qua Đồi thông hai mộ sẽ vẫn thấy ngôi mộ của Lê Thị Thảo và Vũ Minh Tâm đứng cạnh nhau bên Đồi thông hai mộ. Tuy nhiên chỉ có ngôi mộ của cô gái là thật, còn ngôi mộ của chàng trai chỉ là sự hoài niệm, thương tiếc của người đời cho một mối tình đẹp không thành.

Trong một lần lên Đà Lạt, ghé qua Đồi thông hai mộ, đã được nghe kể về câu chuyện tình của đôi nam nữ, tức cảnh, sinh tình, giữa Đà Lạt, nhạc sĩ Hồng Vân đã sáng tác bài hát “Đồi thông hai mộ” để bày tỏ sự thương tiếc với đôi tình nhân trẻ.

Bài hát đó sau này rất nổi tiếng và được rất nhiều ca sĩ thể hiện thành công:
“….Rồi mộ chàng đã được ở cạnh nàng như lời xưa thề ước. Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấc dưới mộ sâu đất khô. Qua bao năm, rêu xanh phủ che kín âm u chẳng nhang khói. Trời xui chi trên cây còn lá úa, lá xanh kia rụng rồi…”.

Sưu tầm
Biên Hùng chuyển
***************

Tình sử bi thương làm nên tuyệt phẩm “Đồi thông hai mộ”

Đình Phùng (biên soạn)

Từ thiên tình sử đầy bi thương

Nằm cách trung tâm TP Đà Lạt khoảng 6km về phía Đông, hồ Than Thở là một địa điểm du lịch nổi tiếng của thành phố ngàn hoa này. Ngay bên cạnh hồ Than Thở là một đồi thông có tên là đồi thông hai mộ. Ở đây có hai ngôi mộ gắn liền với câu chuyện tình buồn có thật của chàng trai tên Tâm và cô gái tên Thảo. Câu chuyện này đã xảy ra hơn nửa thế kỷ, nhưng dư âm của cuộc tình tột cùng đau đớn dường như vẫn còn phảng phất phía sau khung cảnh u buồn của đồi thông hai mộ…

Chuyện kể rằng, Tâm quê gốc ở Gò Công (tỉnh Tiền Giang), là con trai của một gia đình đại điền chủ giàu có. Trong khi đó, Thảo chỉ là con gái của một gia đình công chức nghèo ở thành phố trên cao nguyên Lang Biang. Họ gặp nhau, yêu nhau tha thiết, hẹn hò nhau ở đồi thông và thề non hẹn biển. Sau khi tốt nghiệp, Tâm về Tiền Giang xin cha mẹ cưới Thảo.

Nhưng gia đình chàng đã phản đối kịch liệt vì nhà gái không “môn đăng hộ đối”. Cha mẹ bắt chàng đi cưới người con gái mà mình không hề yêu mến. Không thể cãi lời cha mẹ, nhưng cũng không thể phụ tình người yêu ở Đà Lạt, Tâm đã làm đơn xin đến một vùng tuyến đầu lửa đạn. Trước khi đi, chàng công tử xứ Gò Công có gửi cho người yêu một bức thư, dặn dò cô đợi chờ mình.

Tình sử bi thương làm nên tuyệt phẩm “Đồi thông hai mộ” ảnh 1
 Nhạc sĩ Hồng Vân - tác giả những bản tình ca say đắm lòng người 

Tin tưởng vào lời ước hẹn tình yêu, Thảo chung thủy chờ đợi mối tình đầu, dẫu cho bao chàng trai theo đuổi cũng mặc. Những lúc nhớ người yêu, Thảo thường đi dạo quanh bờ hồ Than Thở, đi dạo quanh đồi thông ven hồ, nơi cô và người yêu có biết bao là kỷ niệm. Những cánh thư gửi về là niềm vui, là lẽ sống của Thảo. Cho đến một ngày, nàng nhận được tin người yêu đã chết. Quá buồn rầu, ngày 15/3/1956, nàng tìm đến khu đồi thông bên bờ hồ Than Thở rồi tự tử.

Trên tay nàng vẫn còn nắm chặt bức thư tình gửi người yêu. Trước khi chết, nàng để lại bức thư xin người nhà chôn nàng trên đồi thông. Nhưng thật ra Tâm chưa chết - người ta đã nhầm khi báo tử. Khi trở về, Tâm mới hay Thảo đã chết và được chôn trên đồi thông vi vu gió ngàn.

Chàng trai chung tình đã khóc hết nước mắt bên nấm mồ người yêu nay đã xanh cỏ. Sau những ngày đau buồn, Tâm không quay về Gò Công mà trở lại chiến trường lửa đạn. Một thời gian sau, Tâm tử trận. Trong những kỷ vật của Tâm, có những dòng nhật ký về Thảo. Tâm có viết một dòng trong nhật ký như lời di chúc, dặn nếu mình chết, Tâm mong được đưa về chôn cất bên cạnh mộ người yêu, trên đồi thông.

Tình sử bi thương làm nên tuyệt phẩm “Đồi thông hai mộ” ảnh 2
Bìa băng catset "Đồi thông hai mộ" hot hit một thời 

Trong cuốn nhật ký, Tâm viết về mối tình của mình rằng: “Nước biếc non xanh dù biến đổi/ Mối tình chung thủy Thảo trong Tâm/ Chiều chưa xuống mà nắng vàng vội tắt/ Đêm chưa về mà cỏ đã đầm sương/ Cả núi rừng ngấn lệ tiếc thương/ Cho mối tình ngang trái của đôi uyên ương không thành…”. Thương xót mối tình của đôi trai gái bất hạnh, người ta đưa Tâm về, chôn cất Tâm ngay bên cạnh mộ Thảo. Gia đình Thảo vẫn qua lại hương khói cho cả hai ngôi mộ.

Người dân quanh vùng biết chuyện, cũng thường đến thắp hương ở đây. Kể từ đó, đồi thông có tên gọi là đồi thông hai mộ. Nhiều cặp tình nhân tin rằng, nếu gặp trắc trở trong tình duyên, chỉ cần đến thắp hương lên hai ngôi mộ này, người đã khuất sẽ phù hộ cho họ vượt qua trắc trở. Nhưng bất hạnh thay, Thảo và Tâm sau khi chết vẫn bị chia rẽ. Bởi sau năm 1975, gia đình Tâm đã bốc mộ, đem di cốt của chàng về quê chôn cất. Tuy nhiên, thương cảm cho mối tình của đôi trẻ, cư dân Đà Lạt vẫn làm một ngôi mộ gió ghi tên Vũ Minh Tâm nằm cạnh mộ Lê Thị Thảo như cũ. 

Đến bản tình ca “Đồi thông hai mộ”

Nhiều người cho rằng, khi xảy ra câu chuyện bi thương của Thảo và Tâm thì hồ được đổi tên thành hồ Than Thở. Tuy nhiên, nhiều tư liệu cho biết, đây vốn là một hồ nước thiên nhiên, nhưng vào năm 1917, người Pháp đã đắp đập xây dựng hồ chứa nước và đặt tên hồ là Lacdes Soupirs. Tên gọi này có hai ý nghĩa, đó là tiếng rì rào, hay còn có nghĩa là than thở. Vào năm 1956 (trùng với năm mất của Thảo), Chủ tịch Hội đồng thị xã Đà Lạt lúc bấy giờ đề nghị đổi từ tên Pháp ra tên Việt thành hồ Than Thở.

Sau năm 1975, hồ Than Thở được đổi tên thành hồ Sương Mai, với ý nghĩa những hạt sương buổi sớm tinh mơ. Tuy nhiên, người dân Đà Lạt mỗi khi nhắc đến hồ này đều gọi là hồ Than Thở, nên sau đó hồ được khôi phục lại tên cũ vào năm 1990. Như vậy cái tên hồ Than Thở không phải bắt nguồn từ bi kịch của chuyện tình Tâm và Thảo.

Tình sử bi thương làm nên tuyệt phẩm “Đồi thông hai mộ” ảnh 3
Khu Đồi thông hai mộ trở thành địa chỉ du lịch tâm linh cho du khách đến với Đà Lạt 

Năm 1965, nhạc sĩ Hồng Vân khi đến thăm mộ của Thảo và Tâm đã tức cảnh sinh tình viết nên ca khúc nổi tiếng “Đồi thông hai mộ” để bày tỏ sự thương tiếc với đôi tình nhân trẻ. Ở cuối bản thảo của ca khúc, nhạc sĩ viết: “Em ơi dưới lòng đất lạnh/ Chỉ hai đứa mình để dệt lại chuyện xưa”. Với giai điệu buồn da diết và từ câu chuyện tình buồn có thật, ca khúc “Đồi thông hai mộ” sau đó rất nổi tiếng và được rất nhiều ca sĩ thể hiện thành công: “…Rồi mộ chàng đã được ở cạnh nàng như lời xưa thề ước/ Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấc dưới mộ sâu đất khô/ Qua bao năm rêu xanh phủ che kín âm u chẳng nhang khói/ Trời xui chi trên cây còn lá úa lá xanh kia rụng rồi…”.

Bây giờ, du khách đến Đà Lạt ghé qua đồi thông hai mộ sẽ vẫn thấy ngôi mộ của Lê Thị Thảo và Vũ Minh Tâm đứng cạnh nhau bên. Tuy nhiên, chỉ có ngôi mộ của cô gái là thật, còn ngôi mộ của chàng trai chỉ là sự hoài niệm, thương tiếc của người đời cho một mối tình đẹp không thành.

Hành trình âm nhạc của nhạc sĩ Hồng Vân

Nhạc sĩ Hồng Vân tên thật là Trần Công Quý. Bút danh Hồng Vân là tên thật người vợ của ông. Nhiều bài hát của ông được ký tên Hồng Vân - Trần Quý. Ngoài ra, ông c ò n dùng một bút danh khác là Dạ Lan Thanh. Hiện không rõ thân thế cũng như năm sinh và năm mất của nhạc sĩ Hồng Vân. Bởi sau năm 1975, không c ò n ai biết tung tích của ông và gia đình ở đâu. Quê nhà nhạc sĩ Hồng Vân chuyển vào Nam định cư tại Đà Lạt từ năm 1954, sống bằng nghề dạy nhạc và sáng tác ca khúc.

Năm 1960, nhạc sĩ Hồng Vân cùng gia đình chuyển về Sài Gòn. Ông tiếp tục viết nhạc, dạy nhạc kiếm sống. Thời điểm ấy, trên một tờ nhạc có đề mẩu quảng cáo giới thiệu “lò luyện” của nhạc sĩ Hồng Vân: “Các bạn yêu ca nhạc muốn trở thành danh ca từ sân khấu, đại nhạc hội, ph ò ng trà đến các đài phát thanh, vô tuyến truyền hình và trên mặt đĩa nhựa Việt Nam, mời các bạn ghi tên theo lớp ca nhạc Hồng Vân do chính nhạc sĩ Hồng Vân hướng dẫn với sự cộng tác của nhóm ca nhạc sĩ danh tiếng nhất Thủ Đô - Sài Gòn (nhóm Nguyễn Văn Đông) phụ trách tập luyện.

Kết quả bảo đảm sử dụng tài nghệ ngay”. Hai lớp nhạc của Hồng Vân nằm ở địa chỉ 274 Đề Thám (Sài Gòn) và 16/47 Trần Bình Trọng (tỉnh Đồng Nai). Đây chính là hai trong số những “l ò luyện” uy tín, nơi vào nghề của nhiều giọng ca thời bấy giờ. Nhạc sĩ Hồng Vân nổi tiếng trong giới nghe nhạc bình dân miền Nam với hàng trăm bản bolero.

Trong đó, có nhiều ca khúc nổi tiếng như: “Gió lạnh đêm hè”, “Như tượng đá”, “Chuyện người con gái hái sim”… Viết về Đà Lạt, ông có nhiều ca khúc như: “Đồi thông hai mộ”, “Tiếng vọng đồi thông” (tức “Đồi thông hai mộ” phần 2), “Trăng sáng đồi thông”, “Vĩnh biệt đồi thông”, “Chuyện hồ Than Thở”…

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn